|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2024/HS-ST Ngày 30 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn H, sinh năm 2002 tại Hòa Bình; tên gọi khác: không; nơi ĐKNKTT: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: Tổ 8, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L và bà Bùi Thị L1; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phủ Lý. Có mặt.
* Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn C và anh Chu Văn V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/6/2024, H đi từ phòng trọ ra khu vực trường Đại học C cơ sở Hà Nam thuộc thôn 1, xã P, thành phố P tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi H gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi và hỏi mua ma túy. H đưa 200.000đ cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi đi khoảng 10 phút quay lại đưa cho H 01 gói nhỏ mầu trắng bên trong chứa chất bột mầu trắng dạng cục.
H cầm gói ma túy người đàn ông đưa cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 gói giấy mầu trắng bên trong chứa chất bột mầu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT 01; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn H không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột mầu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,290g (không phẩy hai trăm chín mươi gam), loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKS-PL ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Bùi Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Bùi Văn H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến thay đổi. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù được trừ thời hạn đã tạm giữ tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine cùng bao gói hoàn trả sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Quan điểm của người bào chữa: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện Kiểm sát đưa ra. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo có tuổi đời còn trẻ, khi phạm tội đã ăn năn hối cải tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm rõ vụ án; đề nghị HĐXX khoan hồng để bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị sớm trở về hoàn lương, làm người có ích cho xã hội, đồng thời miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả, không tranh luận, bào chữa và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, xã hội và miễn phạt tiền bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp. Quyền bào chữa của bị cáo thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định pháp luật.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai theo quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận của cơ quan giám định, bản sơ đồ hiện trường, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ chứng cứ buộc tội kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 10/6/2024 tại thôn 1, xã P, thành phố P, Bùi Văn H đang cất giữ trong túi quần bên trái 0,290 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Bùi Văn H đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[4] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc
quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Phủ Lý, là nguyên nhân trực tiếp phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích trục lợi, không có tài sản, thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma túy Heroine cùng bao gói có trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi là người đã bán ma túy cho Hiền. Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của H thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý người đã bán ma túy cho bị cáo trong vụ án này.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của BLHS.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ: 11/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 426/KL-KTHS ngày 17/6/2024. Mặt trước phong bì niêm phong ghi “Mẫu vật hoàn trả
QT01” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Văn H phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mai Oanh |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
