|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 137/2024/HS-ST Ngày: 22 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi
Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 13/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
– sinh năm 1994, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H (đã chết); Có vợ là Triệu Mùi Phẩy và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; tạm giam: ngày 12/3/2024; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phòng hướng dẫn tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ (P6), Cục C – Bộ C1.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Ngô Sỹ Tuấn A - Phó trưởng phòng.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch số 305/KH-P6, ngày 15 tháng 02 năm 2024, của Cục C - Bộ C1, về việc tuần tra kiểm soát và xử lý vi phạm TTATGT trên tuyến cao tốc C - L và tuyến cao tốc Quốc lộ D N - D. Vào khoảng 10 giờ 15 ngày 11/3/2024, tổ công tác thuộc Phòng 6, Cục C2 - Bộ C1 tiến hành tuần tra kiểm soát tại đoạn đường Km 378 (nút giao thông N1) Cao tốc QL45 N - D, thuộc địa phận xã T, thị xã N. Tổ công tác do trung tá Nguyễn Quang V làm tổ trưởng, trong quá trình kiểm soát tổ công tác đã phát hiện xe ô tô (Container) BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS 15R-113.71 do Nguyễn Văn T điều khiển, không chấp hành biển báo giao thông P.106b “Cấm xe tải có khối lượng chuyên chở theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lớn hơn 10 tấn mà không phụ thuộc vào thực tế có chở hàng hay không”. Tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra, nhưng
2
T không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga lạng lách qua tổ công tác rồi bỏ chạy. Tổ công tác sử dụng xe ô tô tuần tra BKS 80A-032.16 truy đuổi nhưng T vẫn cố tình điều khiển xe lạng lách đánh võng, khi đến Km 369 + 200m đường Cao tốc QL45 N - D, thuộc địa phận thôn B, xã P, thị xã N xe tuần tra vượt lên phía trước, tổ công tác tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T vẫn không chấp hành, điều khiển xe ô tô BKS 15C-209.32 đâm va vào phần đuôi xe ô tô 80A – 032.16. Hậu quả xe ô tô BKS 15C-209.32 và xe ô tô BKS 80A-032.16 bị hư hỏng.
Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại phần đường phía Đông đường Cao tốc QL45 N - Diễn Châu đoạn từ Km 375 + 500 thuộc địa phận xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đến Km 369 + 200 thuộc địa phận xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Đường Cao tốc QL45 N - D chạy hướng Bắc - N, phía Bắc hướng đi Hà Nội, phía Nam hướng đi Nghệ An. Mặt đường rải nhựa phăng, có dải phân cách cứng chia mặt đường thành hai phần đường đi ngược chiều riêng biệt, phần đường phía Tây có chiều phương tiện đi từ Bắc vào N, phần đường phía Đông có chiều đi phương tiện từ Nam ra B; mỗi phần đường đều có hệ thống vạch sơn phân chia làn đường riêng biệt. Hai bên mép đường đều có rào chắn kim loại bảo vệ khép kín dọc theo tuyến đường.
Phần đường phía Đông đường Cao tốc QL45 N - Diễn Châu có hai làn đường dành cho xe cơ giới liền nhau có tổng độ rộng 7,2m; một số điểm dừng khẩn cấp cách quãng có độ rộng 2,3m.
Lấy mép phía Đông đường Cao tốc QL45 N - D làm vạch chuẩn. Quá trình khám nghiệm được thống nhất tiến hành theo chiều từ Nam ra B, xác định vị trí xảy ra vụ việc và những dấu vết, đồ vật, phương tiện như sau:
- - Vị trí thứ nhất (ký hiệu số 1): Là tại điểm dừng khẩn cấp trên mặt đường nhựa phần đường phía Đông cao tốc QL45 N - Diễn Châu đoạn ngang cột mốc ký hiệu H5/375 thuộc địa phận xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Tại vị trí thứ nhất bên lề phía Đông cao tốc Q - Diễn Châu có cột biển báo giao thông "Dải dừng xe khẩn cấp".
- - Vị trí thứ hai (ký hiệu số 2): Là tại mặt đường nhựa phần đường phía Đông Cao tốc QL45 N - Diễn Châu đoạn ngang cột mốc ký hiệu H1/373, thuộc địa phận xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Tại vị trí thứ hai trên mặt đường nhựa có 02 cọc tiêu chóp nón giao thông bằng nhựa màu đỏ, vạch trắng; Cọc tiêu thứ nhất cách vạch chuẩn 4,8m và cách cột mốc H1/373 là 19m về phía Nam; Cọc tiêu thứ hai cách cọc tiêu thứ nhất 31m về phía Bắc và cách vạch chuẩn là 4,6m. Vị trí thứ hai cách vị trí thứ nhất là 2400m về phía Bắc.
- - Vị trí thứ ba (ký hiệu số 3): là tại phần đường phía Đông Cao tốc QL45 N - Diễn Châu đoạn Km 369 + 200, thuộc địa phận thôn B, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí thứ ba cách vị trí thứ hai là 6300m về phía Bắc. Tại vị trí thứ ba ghi nhận những dấu vết, phương tiện như sau:
- + Hệ thống vết cà xước dài 10,3m rộng 0,16m trên mặt ngoài thanh kim loại rào chắn phía Đông Cao tốc QL45 N - D, vết có chiều từ N ra B, đầu vết cách
3
cột mốc ký hiệu H2/369 bên lề phía Đông đường là 31m về phía Bắc. Vết cao cách mặt đường từ 52cm đến 68cm.
- + Xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 15R-113.71 nằm trên mặt đường nhựa theo chiều N - B, đầu xe hướng Bắc. Hàng bánh ngoài bên phải xe ôtô đầu kéo và sơ mi rơ mooc đều nằm trên vạch chuẩn. Bánh trước bên phải đầu kéo cách cuối vết cà xước trên rào chắn kim loại là 8,3m về phía Bắc.
- + Xe ôtô BKS 80A-032.16 nằm trên mặt đường nhựa theo chiều N - B, đầu xe hướng Bắc. Bánh trước bên phải xe cách vạch chuẩn là 1,25m và cách cột mốc ký hiệu H1/369 bên lề phía Đông đường là 46m về phía Nam. Bánh sau bên phải xe cách vạch chuẩn là 1,6m và cách bánh trước bên trái xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 15R-113.71 tại hiện trường là 6,1m về phía Bắc.
- * Tại Kết luận giám định số 1600/KL-KTHS, ngày 19/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - Va chạm giữa ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ-moóc BKS 15R-113.71 với xe ôtô BKS 80A-032.16:
- + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ngoài bên trái ba đờ-sốc trước, cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ-moóc BKS 15R-113.71 (ảnh 4 đến 7) với mặt ngoài bên phải ba-đờ-sốc sau, bên phải thùng xe, ốp nhựa cụm đèn tín hiệu bên phải đuôi xe ôtô BKS 80A-032.16 (ảnh 24 đến 27).
- + Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động cùng chiều.
- + Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên đường.
- + Không đủ cơ sở xác định độ lớn vận tốc của các phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
- - Va chạm giữa xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ-moóc BKS 15R-113.71 với hai cọc tiêu:
- + Dấu vết ghi nhận tại mặt trước dưới bên phải cầu trước, má trong lốp trước (tương ứng vị trí hàng chữ số PAll đến hàng chủ RESA) xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Rơ-moóc BKS 15R-113.71 (ảnh 13 đến 17) phù hợp va chạm với cọc tiêu thứ nhất (ảnh 30 đến 35) trước vị trí số (2) thuộc chiều đường từ Nghệ An đi Hà Nội của Cao tốc QL 45 N - D tạo nên.
- + Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Rơ-moóc BKS 15R-113.71 với cọc tiêu thứ hai.
- * Tại Kết luận giám định ma tuý số 1101/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu ghi thu của Nguyễn Văn T”.
- * Tại Kết luận giám định cồn trong máu số 1102/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh kết luận: “Mẫu máu của Nguyễn Văn T gửi giám định không có cồn”.
4
- * Tại Kết luận giám định điện tử số 1207/KL–KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh kết luận: “Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 12 (mười hai) tệp video của 01 (một) USB và 01 thẻ nhớ gửi giám định. Trích xuất 17 (mười bảy) ảnh từ các tệp video gửi giám định”.
- * Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã N, tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- - Xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-209.32 kéo theo rơ moóc BKS: 15R-113.71 bị hư hỏng, thiệt hại 1.000.000đ (một triệu đồng);
- - Xe ô tô BKS: 80A-032.16 bị hư hỏng, thiệt hại 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- * Về vật chứng:
- - Xe ôtô đầu kéo BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS 15R-113.71 cùng các giấy tờ liên quan (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp);
- - Xe ôtô BKS 80A-032.16 cùng các giấy tờ liên quan (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp);
- - 02 (hai) cọc tiêu hình chóp nón màu cam, bị hư hỏng (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp).
- * Về dân sự:
- - Đối với xe ô tô BKS 80A-032.16: Đại diện đơn vị được giao quản lý xe ông Ngô Sỹ Tuấn A có yêu cầu buộc Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường số tiền chi phí sửa chữa xe là 2.000.000 đồng.
- - Đối với xe ô tô BKS 15C-209.32 ông Đỗ Thanh T1 đại diện Công ty TNHH Đ không yêu cầu T phải bồi thường chi phí thiệt hại đối với xe.
- - Đối với hành vi điều khiển xe ô tô BKS 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS 15R-113.71 đi vào đường có biển báo giao thông P.106b “Cấm xe tải có khối lượng chuyên chở theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lớn hơn 10 tấn mà không phụ thuộc vào thực tế có chở hàng hay không”. Hành vi này đã vi phạm điểm b, khoản 4, Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển hành vi vi phạm nêu trên đến Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.
- * Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-P2 ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 BLHS.
- * Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo đã bồi thường xong cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5
- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thấy đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 15 ngày 11/3/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 15C-209.32 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS: 15R-113.71 (Có giấy phép lái xe hợp lệ) đi vào đường có biển báo cấm đoạn đường Km 378 (nút giao thông N) thuộc Cao tốc QL45 N - D (địa phận xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Khi bị tổ công tác thuộc Phòng 6, Cục C2 - Bộ C1 ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Nguyễn Văn T không chấp hành hiệu lệnh, đã tăng ga lạng, lách qua tổ công tác rồi bỏ chạy. Tổ công tác sử dụng xe tuần tra BKS 80A-032.16 truy đuổi đến Km369 + 200m đường Cao tốc 45 N - D (truy đuổi 09km) thì vượt lên được phía trước xe của T và tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T vẫn không chấp hành, tiếp tục điều khiển xe, chống đối tổ công tác nhằm bỏ chạy dẫn đến va chạm vào đuôi xe tuần tra gây hư hỏng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo như trên là đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Thành có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.
- Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, cần phải xử lý nghiêm minh.
- Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Trách nhiệm dân sự:
Với tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần TNHS cho bị cáo. Vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường đầy đủ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6
Đối với xe ô tô BKS 80A-032.16: Đại diện đơn vị được giao quản lý xe là ông Ngô Sỹ Tuấn A yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường số tiền chi phí sửa chữa xe là 2.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường đầy đủ.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 330; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 12/3/2024.
- - Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo đã bồi thường xong cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự sơ thẩm (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ sau khi vi phạm luật về an toàn giao thông
