Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Trung
  2. Bà Trần Thị Nơi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/HSST-QĐ, ngày 08-11-2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1989, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 5; bị cáo có chồng là Nguyễn Công Đ, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13-9-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Tạ Quang T1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: TDP N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho ông Tạ Quang T1: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: TDP N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình là vợ ông T1 (vắng mặt).

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Tạ Quang M, sinh năm 2013 là con ông T1.
  2. Cháu Tạ Minh Q, sinh năm 2020 là con ông T1.

Đều cư trú: T4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Người đại diện theo pháp luật cho cháu M và cháu Q: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1980 (vắng mặt).

- Những người làm chứng:

  1. Ông Tạ Văn T3, sinh năm 1974;
  2. Anh Tạ Tiến H, sinh năm 1989;

Đều cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1974
  2. Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1978

Đều cư trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 23-8-2024, Nguyễn Thị P không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 17B-520.95 đi từ xã M, huyện H về nhà. Khi đi đến đoạn đường ĐH70B thuộc địa phận thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình thì gặp 04 người đi bộ phía trước cùng chiều gồm ông Tạ Quang T1; ông Tạ Văn T3, ông Tạ Tiến H và ông Phạm Văn L. Do trời tối, tầm nhìn bị hại chế, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe mô tô do P điều khiển đã đâm vào chân trái và thân người phía sau của ông T1 (ông T1 đang đi bộ phía trước, cùng chiều, trên phần đường đi của xe mô tô, sát lề đường phía bên phải) khiến P và ông T1 bị ngã ra đường, xe mô tô bị đổ. Hậu quả: ông T1 và P bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H, xe mô tô hư hỏng. Do thương tích nặng nên ông T1 được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị, đến 01 giờ 57 phút ngày 24 -8- 2024, ông T1 chết trên đường chuyển đến Bệnh viện H1.

Bản kết luận giám định tử thi số 1329 ngày 10-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “1. Các kết quả chính: khám ngoài trên tử thi có các vết xây xát da, rách da, rách dập trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, lưng, mông, tay và chân. Khám trong: vỡ xương sọ vùng giữa chẩm, chảy máu não. 2. Kết luận: nguyên nhân nạn nhân Tạ Quang T1 chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương. Cơ chế hình thành vết thương: do va đập, chà xát với vật tày cứng gây nên.”

Bản cáo trạng số 141/CT-KSHH ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại số tiền 230.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 khoản 1, Điều 54; khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 230.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ do Công an huyện H lập ngày 23-8-2024; Biên bản khám nghiệm tử thi do Công an huyện H lập ngày 24-8-2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ do Công an huyện H lập ngày 27-8-2024 và Biên bản xem xét dấu vết trên bộ quần áo mặc ngoài của nạn nhân Tạ Quang T1 do Công an huyện H lập ngày 27-8-2024; Bản kết luận giám định tử thi số 1329 ngày 10-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Công văn số 2013 ngày 04-9-2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T; Lời khai của những người làm chứng ông Tạ Văn T3, anh Tạ Tiến H; ông Phạm Văn L và ông Nguyễn Thành L1; Lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Lê Thị T2 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 23-8-2024, tại đường Đ thuộc địa phận thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Nguyễn Thị P là người không có giấy phép lái xe theo quy định, có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B-520.95 trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn đã đâm vào chân trái và thân người phía sau của ông Tạ Quang T1 làm ông T1 và P bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện H, xe mô tô hư hỏng. Đến 01 giờ 57 phút ngày 24 - 8 - 2024, ông T1 chết trên đường chuyển đến Bệnh viện H1 do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị P vi phạm quy định tại khoản tại khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 4, khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

  1. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.
  2. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Điều 4, Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G; nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện trên đường bộ

  1. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.

Điều 5, Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G; các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;

Đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định:

Điều 260: Bộ luật Hình sự, tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • Làm chết người;
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
    • Không có giấy phép lái xe theo quy định;
  3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị P là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân; hơn nữa tai nạn xảy ra cũng do một phần lỗi của bị hại do đó cần áp dụng quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự và không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 230.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Đối với hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo P va chạm với ông T1, bị cáo P bị thương nhưng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với hành vi của anh Nguyễn Công Đ đã để cho bị cáo P sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 17B-520.95, đăng ký xe mang tên anh Đ tham gia giao thông; quá trình điều tra xác định anh Đ không biết, không giao xe cho bị cáo nên không có căn cứ để khởi tố anh Đ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17B-520.95 do tai nạn giao thông bị hư hỏng, bị cáo P và anh Đ không có đề nghị bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô Biển số đăng ký 17B-520.95 màu sơn xanh - đen - bạc bị hư hỏng; 01 đôi dép nhựa màu nâu, đã qua sử dụng; 01 bộ quần áo mưa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám bị hư hỏng và 01 chiếc kính mũ bảo hiểm đã bị gãy rời khỏi mũ; 01 chiếc áo phông ngắn tay có cổ màu đỏ và 01 chiếc quần sooc cạp chun màu trắng, có kẻ ô vuông đều đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô Biển kiểm soát 17B-520.95 màu sơn xanh - đen - bạc bị hư hỏng; 01 đôi dép nhựa màu nâu, đã qua sử dụng; 01 bộ quần áo mưa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám bị hư hỏng và 01 chiếc kính mũ bảo hiểm đã bị gãy rời khỏi mũ là của anh Đ và bị cáo P; 01 chiếc áo phông ngắn tay có cổ màu đỏ và 01 chiếc quần sooc cạp chun màu trắng, có kẻ ô vuông là của ông T1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đ, bị cáo P và người đại diện hợp pháp cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  1. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với những người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị P phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - CQCSĐT Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị phượng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger