TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HS-ST
Ngày: 17/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Anh Thư.
- Bà Đàm Thị Hồng Nhung.
Thư ký phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, ghi biên bản phiên toà.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Phan Duy Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Lê Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1370/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Khánh Hòa;
Căn cước công dân số: 05618700**** cấp ngày ** tháng ** năm 2021 tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Bộ Công an; Nơi thường trú: phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Phục vụ quán bar; Trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Nguyễn Thị L; Hoàn cảnh gia đình: Chồng tên Lê Xuân B (đã ly hôn), có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08 tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1996; Địa chỉ: phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa – Vũng Tàu (Vắng mặt).
- Chị Huỳnh Thị Thúy D, sinh năm 1995; Địa chỉ: xã Trung An, thị trấn Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Cầm Đồ Thiên T2; Địa chỉ trụ sở chính: Phường 5, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ Chi nhánh Quận 7: phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thế G, sinh năm 1975, địa chỉ: phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 00014959, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16 tháng 11 năm 2022 lập tại Văn phòng công chứng Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh) (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1997; Địa chỉ: phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Thị Kim T nảy sinh ý định tìm người có tài sản để sơ hở thì chiếm đoạt. Vào khoảng 19 giờ 09 phút ngày 23 tháng 12 năm 2023, T đặt phòng online qua ứng dụng Booking rồi đến khách sạn Grandma Lu số 41 Cô Bắc, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thuê phòng D1 giường số B11. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T đi quanh phòng D1 tìm kiếm tài sản thì phát hiện tại đầu giường số B10 có để 01 ba lô nên T đi đến lục ba lô lấy 01 Ipad Pro màu bạc và 01 bút Apple của chị Nguyễn Ngọc H. T tiếp tục đi đến giường số B5 lục 01 ba lô lấy 01 Ipad Pro màu đen, 01 bao da Ipad màu hồng của chị Huỳnh Thị Thúy D rồi đi về. Ngày 09 tháng 02 năm 2024, T mang Ipad Pro màu bạc và 01 bút Apple đến công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ cầm đồ Thiên T2, chi nhánh 2, phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cho anh Trần Văn H1 (là nhân viên công ty) với giá 8.000.000 đồng, T đã tiêu xài hết số tiền này. (BL: 60-64)
Qua điều tra xác định Nguyễn Thị Kim T đã thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận:
- - 01 Ipad pro 128Gb màu bạc trị giá 14.500.000 đồng.
- - 01 Ipad pro màu đen trị giá 14.500.000 đồng (BL: 39-40).
Theo Kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐGTS ngày 25/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận: 01 cây bút Apple màu trắng, 01 bao da Ipad pro màu hồng (qua sử dụng, đã thu hồi) từ chối định giá (BL: 45-46).
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Kim T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của T phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản kiểm tra camera tại hiện trường; biên bản tạm giữ đồ vật và xác nhận bản ảnh của T đối với vật chứng thu giữ, hình ảnh camera; kết luận định giá tài sản; các biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập (BL: 37-132).
* Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) Ipad Pro 12.9 inch WiFi 128GB màu bạc, số Seri: DMPDJA39PV04.
- - 01 (một) cây bút apple màu trắng.
- - 01 (một) Ipad Pro màu đen, IMEI: 358718098095792.
- - 01 (một) bao da Ipad màu hồng.
Các tài sản nêu trên đã thu hồi và trả lại cho các bị hại (BL: 56)
* Thu giữ của Nguyễn Thị Kim T:
- - 01 (một) bộ tóc giả màu vàng.
- - 01 (một) balô màu trắng - nâu.
Hiện các vật chứng trên Công an Quận 1 đang tạm giữ (BL: 58)
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Huỳnh Thị Thúy D và chị Nguyễn Ngọc H không có yêu cầu bồi thường dân sự. Anh Nguyễn Thế G (là người đại diện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1) yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng là số tiền nhận cầm cố tài sản do T chiếm đoạt.
Tại Cáo trạng số: 129/CT-VKSQ1 ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Huỳnh Thị Thúy D và chị Nguyễn Ngọc H không có yêu cầu bồi thường dân sự. Anh Nguyễn Thế G (là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1) yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng là số tiền nhận cầm cố tài sản do bị cáo chiếm đoạt.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) Ipad Pro 12.9 inch WiFi 128GB màu bạc, số Seri: DMPDJA39PV04; 01 (một) cây bút apple màu trắng; 01 (một) Ipad Pro màu đen, IMEI: 358718098095792; 01 (một) bao da Ipad màu hồng. Các tài sản nêu trên đã thu hồi và trả lại cho các bị hại.
- 01 (một) bộ tóc giả màu vàng, 01 (một) balô màu trắng – nâu thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu và tiêu hủy.
Bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1. Về thu nhập, bị cáo trình bày bản thân không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì. Đồng thời, bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1 có anh Nguyễn Thế G là người đại diện theo ủy quyền yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Kim T bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng là số tiền nhận cầm cố tài sản do bị cáo chiếm đoạt. Anh Trần Văn H1 có cùng ý kiến về việc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là: Biên bản bắt bị can để tạm giam, biên bản hoạt động điều tra, hình ảnh camera hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc, bản tường trình, bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, kết luận định giá tài sản,... nên có căn cứ để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23 tháng 12 năm 2023 tại phòng D1 Khách sạn Grandma Lu, Số 41 đường Cô Bắc, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1, Nguyễn Thị Kim T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 Ipad Pro màu bạc, 01 bút Apple của chị Nguyễn Ngọc H và 01 Ipad Pro màu đen, 01 bao da Ipad màu hồng của chị Huỳnh Thị Thúy D. Theo Kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận: 01 Ipad pro 128Gb màu bạc trị giá 14.500.000 đồng, 01 Ipad Pro màu đen trị giá 14.500.000 đồng, tổng tài sản trị giá 29.000.000 đồng. Theo Kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận: 01 cây bút Apple màu trắng, 01 bao da Ipad pro màu hồng (qua sử dụng, đã thu hồi) từ chối định giá. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức hình phạt nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết tăng nặng cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bản thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Huỳnh Thị Thúy D và chị Nguyễn Ngọc H không có yêu cầu bồi thường dân sự. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1 có anh Nguyễn Thế G là người đại diện theo ủy quyền yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng là số tiền nhận cầm cố tài sản do bị cáo chiếm đoạt, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1 và không có ý kiến gì khác, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) Ipad Pro 12.9inch WiFi 128GB màu bạc, số Seri: DMPDJA39PV04; 01 (một) cây bút apple màu trắng; 01 (một) Ipad Pro màu đen, IMEI: 358718098095792; 01 (một) bao da Ipad màu hồng. Các tài sản nêu trên đã thu hồi và trả lại cho các bị hại, nên Hội đồng xét xử không xét.
- - 01 (một) bộ tóc giả màu vàng, 01 (một) balô màu trắng – nâu thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21 và Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2024.
- - Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bộ tóc giả màu vàng, 01 (một) balô màu trắng – nâu.
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 115/2024/PNK-THAHS ngày 03 tháng 4 năm 2024).
- - Áp dụng các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Kim T về việc bồi thường thiệt hại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ cầm đồ Thiên T1 số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- - Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21 và Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 400.000 (Bốn trăm ngàn ) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Kim Huệ |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
