TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HS-PT
Ngày: 20/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long
Bà Nguyễn Thị Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoài N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Hoài N, sinh ngày 31/10/1995 tại Đà Nẵng;Nơi ĐKHKTT: TỔ H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số A đường C, phường H, quận T, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S (đều còn sống), sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thủy D (chưa đăng ký kết hôn); Tiền sự: Không; Tiền án: Không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 03/01/2024, Nguyễn Hoài N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade biển kiểm soát 43F1-55712 đến khu vực bãi biển G trên đường N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 2.000.000 đồng (Hai ngàn đồng) ma túy. Sau đó, N mang số ma túy này về phòng trọ của mình tại số A C, thuộc phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng rồi lấy ra một ít để sử dụng. Số ma túy còn lại, N dùng cân điện tử và túi ni-lông phân chia thành 10 (mười) gói ma túy có kích thước khác nhau để bán lại cho người khác kiếm lời.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, N nhận được điện thoại của người tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi qua ứng dụng zalo hỏi mua 1.000.000 đồng (Một ngàn đồng) ma túy đá và hẹn giao dịch tại K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, N lấy 01(một) gói ma túy cho vào ngăn phía trước của túi đeo chéo, 09 (chín) gói ma túy còn lại N cất vào ngăn phía sau của túi đeo rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade biển kiểm soát 43F1-55712 đến điểm hẹn chờ Trâm để giao ma túy thì bị Công an quận C, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Công an phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng phát hiện N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, bắt quả tang.
* Tang vật tạm giữ của bị cáo N gồm: 01 (một) túi đeo chéo màu đen N đang đeo trước ngực bên trong có 01(một) gói ni-lông kích thước khoảng (3x3)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, bên ngoài được gói bằng giấy kẻ ô, được niêm phong (ký hiệu là A); 01(một) gói ni-lông có kích thước (8,5x5)cm bên trong có 09 (chín) gói ni-lông có chứa tinh thể rắn màu trắng, kích thước gồm: 07 (bảy) gói ni-lông kích thước khoảng (3x3,5)cm, 01(một) gói ni-lông kích thước khoảng (4x7)cm và 01(một) gói ni-lông kích thước khoảng (4x5,5)cm, tất cả được niêm phong (ký hiệu là B); 01(một) ống thủy tinh; 01(một) xe mô tô hiệu Honda Blade biển kiểm soát 43F1-55712; 01(một) điện thoại di động hiệu S1 gắn sim 0979.905.443 và 0867.340.643.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Hoài N tại số A C, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng, phát hiện và thu giữ: 01(một) cân điện tử, 02 (một) đoạn ống hút vót nhọn một đầu, một đầu hàn kín, dài khoảng 06cm (nỏ), 04 (bốn) gói ni-lông, kích thước (7x4)cm không chứa gì bên trong.
Theo Kết luận giám định số: 61/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an T2 đã kết luận: Tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì (ký hiệu A và B) gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,747 gam, mẫu B: 3,481 gam. Tổng trọng lượng là: 4,228 gam.
Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài N 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 03/01/2024.
Ngoài ra, Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/5/2024 bị cáo Nguyễn Hoài N có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo N giữ nguyên đơn kháng cáo, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, để có ngắn thowifgian học tập, cải tạo tốt, sớm được về với gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Hoài N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, khối lượng ma túy mua bán, đồng thời áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về nhân thân bị cáo, qua đó xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù là phù hợp, không nghiêm khắc.Tại phiên tòa cấp
phúc, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không bổ sung tình tiết mới. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, tại K T, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,228 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán lại cho một đối tượng tên T1 (không rõ lai lịch) nhằm kiếm lời, nhưng khi chưa giao dịch thì bị Cơ quan điều tra Công an quận C, thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật. Vì vậy, bị cáo thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 21/5/2024 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 05(năm) tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nghiêm khắc, bị cáo phạm tội lần đầu, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để có ngắn thời gian học tập, cải tạo tốt sớm về với gia đình.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước, về các chất ma túy, xâm phạm về trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây mất trật tại địa phương, vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm bắt khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[2.] Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất vụ án, khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi mua bán, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS mà bị cáo được hưởng và có xét đến nhân thân bị cáo, trên cơ sở đó xử phạt
bị cáo mức hình phạt 05 (năm) năm tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không không nghiêm khắc, phù hợp với quy định của pháp luật.Tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKS nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do không chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I.Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.1. Không chấp nhận kháng cáo của Bị cáo Nguyễn Hoài N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
1.2 Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài N 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 03/01/2024.
II.Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoài N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
III.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |
Các Thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh |
Bản án số 137/2024/HS-PT ngày 20/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 137/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài N
