TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2024 “V/v ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàng.
Ông Nguyễn Trần Huy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông và bà Trần Thị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hoà hợp trong lối sống; vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không cùng quan điểm trong hôn nhân, không đem lại hạnh phúc cho nhau nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị H. Trong quá trình chung sống ông và bà H có một người con chung tên Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2014, con chung ông đang trực tiếp nuôi dưỡng, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 15 tháng 6 năm 2024 bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Vào năm 2013 bà và ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hoà hợp trong lối sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống từ đầu năm 2023 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục nên bà đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn C. Bà và ông C có một người con chung tên Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2014, con chung do ông C đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà đồng ý giao con chung cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Trần Thị H, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn C là nguyên đơn, bà Trần Thị Huỳnh H bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H.
[4]. Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H có một người con chung tên Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2014, con chung do ông C đang trực tiếp nuôi dưỡng, ông C yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Tại bản tự khai ngày 15 tháng 6 năm 2024 thể hiện bà H đồng ý giao con chung cho ông C trực tiếp nuôi nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa ông C, bà H là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại bản tự khai ngày 17 tháng 6 năm 2024 nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của ông C và bà H, giao người con chung tên Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2014 cho ông Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Ông Nguyễn Văn C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5]. Về tài sản chung, nợ chung: ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6]. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Văn C phải nộp 300.000 đồng, ông C đã nộp tạm ứng 300.000 đồng được đối trừ chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H.
- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 19 tháng 12 năm 2014 cho ông Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003602 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, ông C đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Triều |
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Trần Thị H, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung
