Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 137/2022/HS-ST

Ngày: 29 - 07 - 2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và bà Đào Thị Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 29 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Phún Cẩm N, sinh năm 1996 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Con ông Phún Bùi Q và bà Chí Thị Mỹ L. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

2. Tsằn Phùng C, sinh năm 1991 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Tsằn Chắn P và bà Voòng Ủng M. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

3. Phún Cẩm S1, sinh năm 1989 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Con ông Phún Bùi Q và bà Chí Thị Mỹ L. Có vợ là Vòng Thị Hồng P, sinh năm 1994, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

4. Chiếng Dĩnh H1, sinh năm 1984 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Hoa. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Con ông Chiếng Sình S và bà Vòng Sy M. Có vợ là Thống Ngọc L, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

5. Chìu Kín H2, sinh năm 1997 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và nơi cư trú tại: khu phố 2, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Chìu Nhục P và bà Tằng Thị Kim T. Có vợ là Hoàng Đan Q, sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

6. Vòng Sín P, sinh năm 1998 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và nơi cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Hoa. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Con ông Vòng A B và bà Giềng A H. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

7. Lưu Kim S2, sinh năm 1977 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. HKTT và nơi cư trú tại: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Hoa. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Làm rẫy. Con ông Lưu Văn P và bà Hà Thị M. Có vợ là Võ Thị Hải U, sinh năm 1985 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 12/02/2022 và giam giữ đến ngày 19/02/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Võ Việt Ph, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Tổ 13, khu phố 2, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

  • + Chị Tsằn Phùng D, sinh năm 1989. Địa chỉ cư trú: ấp 3, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

  • + Anh Đào Văn V, sinh năm 1988. Địa chỉ cư trú: EB, khu phố 5, phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng: Anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1984.

(Các bị cáo đều có mặt, còn lại đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 12/02/2022 tại khu vực rẫy trồng tràm của gia đình Phún Cẩm S1 thuộc ấp 3, xã ST, huyện TB, Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 đang đánh bạc bằng hình thức lắc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 23.220.000 đồng thì bị Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện Trảng Bom phối hợp với Công an xã Sông Trầu bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 16.220.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 10.000.000 đồng trong người các bị cáo; 01 bộ dụng cụ lắc “Bầu cua”; 05 xe mô tô và 07 điện thoại di động các loại.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận như sau:

Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 là bạn bè hàng xóm với nhau. Khoảng 22 giờ 30 ngày 12/02/2022, sau khi nhậu xong tại khu vực rẫy tràm của gia đình bị cáo Phún Cẩm S1 thuộc ấp 3, xã ST, huyện TB thì Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức lắc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý.

1. Phún Cẩm N mang theo và sử dụng số tiền 7.400.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò làm cái. Quá trình đánh bạc, N thắng được số tiền 50.000 đồng. Khi bị bắt N bị tạm giữ 450.000 đồng trên chiếu bạc, 7.000.000 đồng trong bóp ở trong túi quần, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 và 01 xe môtô gắn biển số 60H1-436.11.

2. Tsằn Phùng C mang theo và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò làm cái. Quá trình đánh bạc, C thua số tiền 430.000 đồng. Khi bị bắt C bị tạm giữ số tiền 750.000 đồng ở vị trí C ngồi đánh bạc, 320.000 đồng trên chiếu bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A2 và 01 xe môtô gắn biển số 60B8-210.43.

3. Phún Cẩm S1 mang theo và sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò làm cái. Quá trình đánh bạc, S1 thắng được số tiền 150.000 đồng. Khi bị bắt S1 bị tạm giữ số tiền 1.150.000 đồng trên chiếu bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS và 01 xe môtô biển số gắn biển số 60F3-259.61.

4. Chiếng Dĩnh H1 mang theo và sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc với vai trò con bạc. Quá trình đánh bạc, H1 thắng được số tiền 150.000 đồng. Khi bị bắt H1 bị tạm giữ số tiền 450.000 đồng trên chiếu bạc.

5. Chìu Kín H2 mang theo số tiền 3.400.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, còn 3.100.000 đồng là để mua cơm, nước hàng ngày cho những người làm chuối, không sử dụng vào việc đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H2 thua số tiền 100.000 đồng. Khi bị bắt H2 bị tạm giữ số tiền 200.000 đồng trên chiếu bạc, 3.100.000 đồng trong bóp ở trong túi quần, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remid.

6. Vòng Sín P mang theo và sử dụng số tiền 12.700.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc với vai trò con bạc. Quá trình đánh bạc, P thắng được số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt P bị tạm giữ số tiền 12.200.000 đồng trên chiếu bạc, 700.000 đồng đang cầm trên tay, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA3S và 01 xe môtô gắn biển số 60H1-081.63.

7. Lưu Kim S2 mang theo và sử dụng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc với vai trò con bạc. Quá trình đánh bạc, S2 thua số tiền 20.000 đồng và ngồi xem các đối tượng đánh bạc đến khi bị bắt. Khi bị bắt S2 bị tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 xe môtô gắn biển số 60H1 - 367.04.

Phún Cẩm S1 lấy 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua làm cái cho các con bạc tham gia đánh bạc. S1 làm cái được khoảng 03-04 ván thì S1 đưa bộ dụng cụ lắc bầu cua cho Tsằn Phùng C làm cái, đánh bạc được khoảng 10 phút thì Phún Cẩm N đến và thay C tiếp tục làm cái cho các con bạc tham gia chơi, quá trình đánh bạc không có ai thu tiền xâu. Các bị cáo chơi đánh bạc được khoảng 30 phút thì bị bắt quả tang.

Phương thức chơi bạc, cách thức tính thắng thua như sau:

S1, N, C sử dụng 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm 03 hột xốp, mỗi hột có 06 mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 hộp nhựa, 01 đĩa nhôm, 01 tờ giấy màu có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà. Người làm cái sẽ để 03 hột xốp trên đĩa nhôm rồi úp hộp nhựa lại rồi lắc, sau đó các con bạc sẽ đặt cược với số tiền bất kỳ vào các hình in trên giấy. Sau khi các con bạc đặt cược xong thì người làm cái sẽ mở hộp ra. Nếu các mặt xốp trùng với hình các con bạc đặt cược thì người làm cái sẽ trả số tiền thắng cược cho con bạc bằng số tiền con bạc đặt cược, nếu có hai hoặc ba hột xốp có hình giống hình con bạc đặt cược thì người làm cái sẽ trả tiền gấp 02 hoặc 03 lần số tiền con bạc đặt cược, nếu không có hình giống con bạc đặt cược thì người làm cái sẽ thắng số tiền con bạc đặt cược vấn đó. Mỗi ván các con bạc đặt cược từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKS-TB ngày 16 tháng 05 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo: Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

    • + Tuyên bố các bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 phạm tội “ Đánh bạc”.

    • + Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

    • + Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: Các bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P mỗi bị cáo từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng, bị cáo Lưu Kim S2 từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

  • + Xử lý vật chứng:

    • Đối với số tiền 23.220.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

    • Đối với 01 bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm 03 hột xốp 6 mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 hộp nhựa, 01 đĩa nhôm, 01 tấm giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy.

    • Đối với số tiền 3.100.000 đồng thu trong người bị cáo H2 không sử dụng đánh bạc; xe môtô biển số 60H1- 436.11, 60H1- 367.04, 60F3-259.61, 60H1- 08163, 60B8-210.43 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động Iphone XS, 01 điện thoại di động OPPOA3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remid do không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

    • + Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

  • - Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Các bị cáo thừa nhận hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội không có oan sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 12/02/2022 tại khu vực rẫy tràm của gia đình Phún Cẩm S1 thuộc ấp 3, xã ST, huyện TB, Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 đang đánh bạc bằng hình thức lắc “bầu cua” thắng thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 23.220.000 đồng thì bị Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện Trảng Bom phối hợp Công an xã Sông Trầu bắt quả tang.

Các bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng nên cần xử phạt các bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thì thấy: Trong vụ án này, tuy các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ ở mức đồng phạm giản đơn vì không có sự phân công, bàn bạc cụ thể.

Bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1 có vai trò cao hơn các bị cáo khác vì các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò làm cái, bị cáo S1 sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình dùng vào việc đánh bạc. Tiếp đến là bị cáo Vòng Sín P vì số tiền bị cáo P mang theo và sử dụng vào việc đánh bạc nhiều nhất. Các bị cáo Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2 có vai trò như nhau và thấp hơn các bị cáo Phún Cẩm N, Phún Cẩm S1, Tsằn Phùng C, Vòng Sín P; bị cáo Lưu Kim S2 có vai trò thấp nhất. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và vai trò của các bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt vì không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đều là người dân tộc thiểu số nên nhận thức, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, từ trước đến thời điểm phạm tội chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và địa phương. Trong thời gian dịch bệnh covid 19 địa phương bị phong tỏa, các bị cáo đã tích cực cùng lực lượng ấp, dân quân tự vệ tham gia trực tiếp tuyến đầu phòng chống dịch covid (Có xác nhận của chính quyền địa phương). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và nhận thấy áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm minh, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với số tiền 23.220.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

  • + Đối với 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm 03 hột xốp 6 mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 hộp nhựa, 01 đĩa nhôm, 01 tấm giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà sử dụng vào việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • + Đối với số tiền 3.100.000 đồng thu trong người bị cáo Chìu Kín H2, 07 điện thoại di động và 05 xe môtô các loại của các bị cáo đều không sử dụng vào mục đích đánh bạc, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • + Tuyên bố các bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P phạm tội “Đánh bạc”.

  • + Xử phạt bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1 mỗi bị cáo số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

  • + Xử phạt bị cáo Vòng Sín P số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

  • + Xử phạt bị cáo Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2 mỗi bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • + Tuyên bố bị cáo Lưu Kim S2 phạm tội “Đánh bạc”.

  • + Xử phạt bị cáo Lưu Kim S2 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 23.220.000 đồng ( Hai mươi ba triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng).

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm 03 hột xốp 6 mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 hộp nhựa, 01 đĩa nhôm, 01 tấm giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà.

(Tiền, vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/05/2022 và Biên lai thu tiền số 0005132 ngày 22/05/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phún Cẩm N, Tsằn Phùng C, Phún Cẩm S1, Chiếng Dĩnh H1, Chìu Kín H2, Vòng Sín P, Lưu Kim S2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS H. Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Duy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2022/HS-ST ngày 29/07/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 137/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phún Cẩm Nhành và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger