|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1363/2025/DS-ST
Ngày: 11/12/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Hoàng Minh
- Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 740/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 572/2025/QÐST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sĩ Q – sinh ngày 03/01/1965 (có mặt)
Căn cước số: [...] cấp ngày 20/12/2024
Địa chỉ: B N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. -
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Toàn N – sinh năm 1973 (vắng mặt)
CMND số [...] cấp ngày 14/02/2014
- Bà Lê Thị Ngọc T – sinh năm 1975 (vắng mặt)
CMND số [...] cấp ngày 14/02/2014
Cùng thường trú: 119/36 đường B, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/04/2025 cùng các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/12/2015, ông Nguyễn Sĩ Q ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T (gọi tắt là ông N bà T) để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Thửa đất số 2006 (diện tích 200m²) và thửa đất số 2032 (diện tích 175m²) đều tọa lạc tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh), cả hai thửa đất đều được UBND quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổng giá trị chuyển nhượng là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Thực hiện hợp đồng, ông Q đã đặt cọc số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Hình thức: Giấy nhận nợ số 0477-01/2015/901 ngày 22/12/2015 của Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh T3, ông Nguyễn Sĩ Q là người vay tiền để chuyển vào tài khoản số: 901027140800001 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh T3.
Ngày 02/03/2017, ông Q tiếp tục thanh toán số tiền đặt cọc cho ông N bà T số tiền 85.000.000 đồng (T1 mươi lăm triệu đồng). Hình thức: Chuyển vào tài khoản số: 101214849052819 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng E, Thành phố Hồ Chí Minh; nội dung: Nguyễn Sĩ Q nộp tiền nhà lần 2.
Ngày 21/4/2017, ông Q tiếp tục thanh toán số tiền đặt cọc cho ông N bà T số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Hình thức: Chuyển vào tài khoản số: 0721000524282 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng V - Chi nhánh K; nội dung: Đặt cọc tiền mua đất (lần 3).
Ngày 24/4/2017, ông Q tiếp tục thanh toán số tiền đặt cọc cho ông N bà T số tiền 675.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Hình thức: Chuyển vào tài khoản số: 0721000524282 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng V - Chi nhánh K; nội dung: Đặt cọc tiền mua đất (lần 4).
Tổng số tiền chuyển khoản là 2.460.000.000 đồng và 40.000.000 đồng ông Q đưa tiền mặt không nhớ rõ thời gian. Tổng cộng ông Q đặt cọc cho ông N bà T số tiền là 2.500.000.000 đồng. Do đó, ngày 24/4/2017, ông Q với ông N bà T ký lại hợp đồng đặt cọc mới thay thế hợp đồng đặt cọc ngày 22/12/2015, nội dung: giá trị chuyển nhượng 3.000.000.000 đồng, xác định số tiền đặt cọc là 2.500.000.000 đồng, ông N bà T cam kết giao giấy tờ liên quan đến thửa đất trước ngày 15/05/2017, ông Q có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại là 500.000.000 đồng, sau đó hai bên sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, ông N bà T vi phạm hợp đồng vì đã chuyển nhượng 02 thửa đất cho người khác. Từ ngày 29/10/2019 đến ngày 17/06/2021, ông N bà T và bà Lê Thiện Hoài T2 (ông N bà T nhờ trả thay) đã chuyển khoản 23 lần, tổng số tiền trả lại tiền cọc là 315.000.000 đồng (Ba trăm mười lăm triệu đồng). Nay, ông N bà T còn nợ số tiền cọc là 2.185.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm tám mươi lăm triệu đồng).
Nay ông Nguyễn Sĩ Q yêu cầu:
- Hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/04/2017;
- Buộc ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T liên đới trả cho ông Nguyễn Sĩ Q số tiền cọc là 2.185.000.000 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T phải thanh toán cho ông Nguyễn Sĩ Q số tiền phạt gấp 02 lần số tiền đã đặt cọc theo điển a khoản 2.3 Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017, tương đương 4.370.000.000 đồng.
- Tổng số tiền 6.555.000.000 đồng thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn: Ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng ông N bà T vẫn không đến Toà làm việc nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn trình bày:
- Đối với người bị kiện: Ông Năng bà T là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng của 02 thửa đất, ông trực tiếp thương lượng và chuyển tiền cọc cho ông N bà T, nên ông Q chỉ yêu cầu ông N bà T là người có nghĩa vụ trả lại tiền cọc. Còn việc ông N bà T không có khả năng thanh toán mà nhờ bà T2 thanh toán giúp thì ông vẫn đồng ý trừ vào số tiền cọc mà ông N bà T còn thiếu. Ông Q không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ trả tiền cọc cho bà T2. Việc đòi lại số tiền cọc còn thiếu không liên quan đến bà T2 nên ông Q không đồng ý đưa bà T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- Hợp đồng đặt cọc ngày 22/12/2015 không có hiệu lực vì đã bị thay thế bằng hợp đồng đặt cọc ngày 24/4/2017, nên ông chỉ yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017.
- Ông Q xin rút lại yêu cầu: Buộc ông N bà T phải thanh toán cho số tiền phạt gấp 02 lần số tiền đã đặt cọc theo điểm a khoản 2.3 Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017, tương đương 4.370.000.000 đồng.
- Đối với số tiền cọc 40.000.000 đồng ông Q đưa tiền mặt không nhớ rõ thời gian, mặt dù trong hợp đồng đặt cọc có ghi rõ số tiền cọc là 2.500.000.000 đồng nhưng ngoài hợp đồng đặt cọc ông Q không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh có giao tiền cho ông N bà T nên ông Q đồng ý rút lại yêu cầu đòi số tiền cọc 40.000.000 đồng. Như vậy, số tiền đặt cọc ông Q yêu cầu ông N bà T trả là: 2.500.000.000 đồng - 40.000.000 đồng - 315.000.000 đồng = 2.145.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – TP Hồ Chí Minh phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai cùng lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ đối với yêu cầu đòi số tiền cọc 40.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 4.370.000.000 đồng do tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện rút.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”; bị đơn cư trú tại phường V, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại tòa án và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Xét bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, ông Q xác định chỉ yêu cầu ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T là người có nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt cọc còn thiếu. Ông Q không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ trả tiền cọc cho bà Lê Thiện Hoài T2. Việc đòi lại số tiền cọc còn thiếu không liên quan đến bà T2 nên ông Q không đồng ý đưa bà T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Xét thấy:
Theo quy định tại Điều 370 của Bộ luật dân sự 2015 quy định “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho bên thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý”.
Tuy nhiên, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 2006 và 2032 thì ông N bà T là người đứng tên sở hữu, nội dung hợp đồng đặt cọc và các giao dịch chuyển khoản thì ông Q là người trực tiếp giao dịch, thương lượng, chuyển tiền cho ông N bà T, nên việc ông Q yêu cầu ông N bà T là bị đơn (người có nghĩa vụ trả nợ); không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà T2 và không đưa bà T2 vào tham gia tố tụng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ đối với yêu cầu đòi số tiền cọc 40.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 4.370.000.000 đồng do tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện rút.
[2] Về yêu cầu đương sự:
[2.1] Về số tiền đặt cọc và phạt cọc:
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Ngày 22/12/2015, ông Nguyễn Sĩ Q ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của:
- Thửa đất số 2006, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m² tọa lạc tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp GCN số 02184.QSDĐ/11B do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/10/2004.
- Thửa đất số 2032, tờ bản đồ số 01, diện tích 175m² tọa lạc tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp GCN số 01154.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/10/2004.
Giá trị chuyển nhượng của hai thửa đất là 3.000.000.000 đồng. Ngày 22/12/2015, ông Q đã đặt cọc số tiền 1.400.000.000 đồng, thông qua hình thức: Ông Q vay tiền để chuyển khoản vào tài khoản của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh T3.
Trong các ngày 02/03/2017, 21/04/2017 và 24/4/2017 ông Q tiếp tục thanh toán số tiền đặt cọc cho ông N bà T với tổng số tiền chuyển vào tài khoản của bà Lê Thị Ngọc T là 1.060.000.000 đồng.
Ngày 24/4/2017, ông Q với ông N bà T ký lại hợp đồng đặt cọc thay thế hợp đồng đặt cọc ngày 22/12/2015, nội dung: giá trị chuyển nhượng 3.000.000.000 đồng, xác định số tiền đặt cọc là 2.500.000.000 đồng (trong đó: chuyển khoản là 2.460.000.000 đồng và 40.000.000 đồng ông Q đưa tiền mặt không nhớ rõ thời gian), ông N bà T cam kết giao giấy tờ liên quan đến thửa đất trước ngày 15/05/2017, ông Q có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại là 500.000.000 đồng, sau đó hai bên sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, ông N bà T đã chuyển nhượng 02 thửa đất cho ông Lê Phú Q1 và bà Lê Phú D, cập nhật chuyển nhượng ngày 08/01/2018. Do đó, từ ngày 29/10/2019 đến ngày 17/06/2021, ông N bà T và bà T2 (ông N bà T nhờ trả thay) đã chuyển khoản 23 lần, tổng số tiền trả lại tiền cọc là 315.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông Q xin rút lại yêu cầu: Buộc ông N bà T phải thanh toán cho số tiền phạt gấp 02 lần số tiền đã đặt cọc theo điểm a khoản 2.3 Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017, tương đương 4.370.000.000 đồng và số tiền cọc 40.000.000 đồng ông Q đưa tiền mặt không nhớ rõ thời gian. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu này.
Như vậy, số tiền đặt cọc ông Q yêu cầu ông N bà T trả là: 2.500.000.000 đồng- 40.000.000 đồng- 315.000.000 đồng= 2.145.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017 giữa ông Q với ông N và T được lập thành văn bản có chữ ký của bên đặt cọc và bên nhận cọc, pháp luật không bắt buộc hợp đồng đặt cọc phải công chứng, chứng thực nên hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017 có chủ thể, hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự 2015 nên có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ Giấy nhận nợ số 0477-01/2015/901 ngày 22/12/2015 của Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh T3, ông Nguyễn Sĩ Q là người vay số tiền 1.400.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số: 901027140800001 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh T3; Giấy nộp tiền ngày 02/03/2017 của Ngân hàng E1 nộp vào tài khoản số: 101214849052819 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng E, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 85.000.000 đồng; Ủy nhiệm chi ngày 21/4/2017 của Ngân hàng TMCP C chuyển vào tài khoản số: 0721000524282 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng V - Chi nhánh K số tiền 300.000.000 đồng; Ủy nhiệm chi ngày 24/4/2017 của Ngân hàng TMCP C chuyển vào tài khoản số: 0721000524282 của Lê Thị Ngọc T tại Ngân hàng V - Chi nhánh K số tiền 675.000.000 đồng. Tổng số tiền chuyển khoản là 2.460.000.000 đồng.
Căn cứ sao kê tài khoản khách hàng ngày 14/12/2022 của Ngân hàng TMCP N2 thể hiện: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 14/12/2022, ông N, bà T và bà T2 (ông N bà T nhờ trả thay) đã chuyển khoản 23 lần, tổng số tiền cọc trả lại là 315.000.000 đồng.
Quá trình tố tụng, ông N bà T vắng mặt nên ông Q tự nguyện khai báo số tiền đặt cọc, số tiền ông N bà T đã trả, số tiền cọc ông N bà T còn nợ là 2.460.000.000 đồng - 315.000.000 đồng = 2.145.000.000 đồng là phù hợp chứng cứ nêu trên nên có cơ sở xem xét.
Theo mục 3.1 của hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017 thì ông N bà T có nghĩa vụ giao giấy tờ có liên quan đến thửa đất đúng như hiện trạng cho ông Q trước ngày 15/05/2017. Tuy nhiên, theo thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp GCN số 02184.QSDĐ/11B do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/10/2004; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp GCN số 01154.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/10/2004; Công văn số 339/CNTPTĐ ngày 09/7/2025 của Chi nhánh thành phố T; Hợp đồng thế chấp ngày 07/04/2015, hợp đồng sửa đổi hợp đồng thế chấp 14/7/2016 của Ngân hàng TMCP Q2 - Chi nhánh B thể hiện: 02 thửa đất số 2006 và 2032, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) trong thời gian ông N bà T nhận tiền cọc của ông Q thì tài sản đã được thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q2 - Chi nhánh B, đến ngày 03/01/2018 mới được xóa thế chấp, ngày 08/01/2018 cập nhật chuyển nhượng cho ông Lê Phú Q1 và bà Lê Phú D. Do đó, ông N bà T đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc, vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328, điểm b khoản 1 Điều 423 của Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017 và buộc ông N bà T trả lại số tiền đặt cọc còn nợ là 2.145.000.000 đồng.
[2.3] Về thời hạn thanh toán:
Do ông N bà T vi phạm thoả thuận trong hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Q. Do đó, việc ông Q yêu cầu ông N bà T phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, ông N bà T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, gồm 300.000 đồng đối với yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và 74.900.000 đồng đối với yêu cầu hoàn trả lại tiền cọc.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại tòa án;
Căn cứ Điều 117, 119, 328, 370 và 423 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/04/2017 ký giữa ông Nguyễn Sĩ Q với ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T.
- Buộc ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T phải liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Sĩ Q số tiền 2.145.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng đặt cọc ngày 24/04/2017.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ đối với yêu cầu đòi số tiền cọc 40.000.000 đồng và tiền phạt cọc 4.370.000.000 đồng do tại phiên tòa ông Nguyễn Sĩ Q tự nguyện rút.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 75.200.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu hai trăm ngàn đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ông Nguyễn Sĩ Q là người cao tuổi, có đơn xin miễn tạm ứng án phí.
-
Quyền kháng cáo:
Ông Nguyễn Sĩ Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Toàn N và bà Lê Thị Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
-
Về thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 1363/2025/DS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 1363/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
