|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 136/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và bà Tô Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn P, sinh năm 1977. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Tập thể Công ty khảo sát thiết kế mỏ, phường V, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá (bị cáo khai tại phiên tòa): Lớp 6/10. Con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị S. Có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011). Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Năm 2002, bị Công an phường Q, quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2014/HSST ngày 14/04/2014 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực vỉa hè vườn hoa Nguyễn T1 (thuộc phường V, quận H), Công an phường V, quận H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn P đang cất giấu ở túi áo bên phải đang mặc 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng, P khai nhận là heroin, P mua để sử dụng cho bản thân.
Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) gói giấy màu vàng, kích thước (0,5x1)cm bên trong chứa chất bột màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Phạm Văn P. Tại bản kết luận giám định số 376/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,283gam".
Quá trình điều tra, P khai nhận: Bản thân P có nhu cầu sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/01/2024, P đi xe buýt từ nhà ở V đến vườn hoa N, phường V, H nhưng không mua được ma tuý. P thuê xe ôm của anh Lê Văn T2 chở đến nghĩa trang V, H mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói heroin với giá 250.000 đồng. Mua xong, P cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi ra chỗ anh T2 đứng đợi, bảo anh T2 chở về vườn hoa N, H. Khi đến vỉa hè vườn hoa Nguyễn T1, H thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy: P khai mua của người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực nghĩa trang phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Ngoài lời khai của P thì không có tài liệu nào khác chứng minh, nên không có căn cứ làm rõ để xử lý trong vụ án này.
Đối với Lê Văn T2 là người đã chở xe ôm đưa P đi mua ma túy tại nghĩa trang V, phường V, quận H. Anh T2 không biết việc P thuê xe ôm để đi mua bán ma túy, P không nói cho anh T2 biết việc P đi đâu làm gì, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Lê Văn T2.
Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS-HĐ ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố Phạm Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn P từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là chất cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo xin được xem xét để được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về những hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực vỉa hè vườn hoa Nguyễn T1 (thuộc phường V, quận H), Phạm Văn P đang có hành vi cất giấu ở túi áo khoác bên phải đang mặc 01 gói heroin, khối lượng 0,283 gam mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường V, quận H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.
- [3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội nên cần có mức hình phạt phù hợp đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi phạm tội cùng loại nhưng vẫn tiếp tục vi phạm nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 nên thời gian đã tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- [5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Văn P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an Thành phố H hoàn lại, mép dán ngoài có chữ ký của Phạm Văn P, cán bộ Nguyễn Tân A và giám định viên Nguyễn Hồng Q. (Hiện trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2024 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn P phạm tội TTTPCMT
