Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HSST

Ngày: 25/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1, Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
    • 2, Bà Nguyễn Minh Phương
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An Trinh, cán bộ Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/HSST ngày 27/7/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 657/2023/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2023, đối với:

Bị cáo Chiêm Minh T, sinh năm 1996, tại Cần Thơ

Nơi cư trú: KV B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Chổ ở: 29H/4 KV3, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Chiêm Thành T1 (sống) và bà Nguyễn Thị Diễm T2 (sống); anh chị em ruột: không; V là Phạm Đào Trang T3; có 01 con, SN 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2023 (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Đông H

Địa chỉ: I C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hùng B

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bị nghiện và muốn có ma túy sử dụng, nên trưa ngày 01/4/2023, bị cáo Chiêm Minh T liên hệ với tên C (không rõ họ tên thật và địa chỉ) để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. C hẹn bị cáo đến khách sạn T5, phường H, quận C để giao nhận ma túy. Bị cáo điểu khiển xe mô tô biển số 65D1-310.68 chạy đến điểm hẹn gặp C nhận ma túy, sau khi nhận xong bị cáo bỏ vào túi quần bên phải, phía trước, rồi điểu khiển xe quay về quận N. Khi bị cáo đi đến đường C, phường T, thì bị lực lượng Công an dừng xe, kiểm tra, bị cáo thừa nhận đang cất giấu ma túy trong người, mục đích là để sử dụng cá nhân.

Vật chứng thu giữ như sau:

  • - 01 đoạn băng keo màu đen quấn bên ngoài gói nilon không màu, nẹp miệng, bên trong chứa 01 gói nilon không màu hàn kín 2 đầu, chứa tinh thể không màu;
  • - 01 điện thoại di động Oppo màu đen kèm 2 sim số 0528.648.363; 0907.661.015; 01 xe mô tô Honda SH Mode màu trắng – đen; biển số 65D1-310.68 (đã qua sử dụng);

Tại kết luận giám định số 110/KL-KTHS, ngày 07/4/2023 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 2,3026 gram.

Qua điều tra bị cáo khai nhận, bị cáo sử dụng ma túy hơn 7 năm và thường mua của đối tượng tên C. Vào ngày bị bắt, số ma túy bị thu giữ là bị cáo cũng mua của C với giá 1.000.000 đồng, nhưng chưa trả tiền; mục đích mua là để sử dụng cá nhân.

Đối với đối tượng tên C bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không biết họ tên địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra sẽ xác minh xử lý sau.

Đối với xe mô tô Honda SH Mode màu trắng – đen; biển số 65D1-310.68 đã thu giữ, qua xác minh là ông Phạm Đông H đứng tên chủ sở hữu. Ông H cho con gái là Phạm Đào Thanh T4 (vợ của bị cáo T) mượn để đưa rước con đi học. Việc bị cáo lấy xe để đi mua ma túy ông H và chị T4 không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản là chiếc xe trên cho ông H xong.

Tại Bản cáo trạng số 153/CT-VKSNK ngày 26/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo. Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự;

Đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Về vật chứng, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Oppo màu đen kèm 2 sim số 0528.648.363; 0907.661.015 (đã qua sử dụng); Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe Honda SH Mode màu trắng – đen; biển số 65D1-310.68, cho chủ sở hữu là ông H xong.

- Bị cáo thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chỉ yêu cầu được xem xét mức án thấp để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo sử dụng một thời gian dài, hơn 7 năm. Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như mô tả tại kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận N. Bị cáo xác định vào ngày bị bắt bị cáo tàng trữ 2,3026 gram ma túy là để dành sử dụng cá nhân. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn đầy đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 như Kiểm sát viên đề nghị.

[3]. Xét tính chất vụ án, là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội và pháp luật. Bị cáo biết rất rõ tất cả những hành vi có liên quan đến ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do nghiện, muốn có ma túy sử dụng, bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

[4]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5]. Về vật chứng vụ án:

  • - Số lượng ma túy thu được trong vụ án là chất biệt dược cấm lưu hành nên tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động Oppo màu đen kèm 2 sim số 0528.648.363; 0907.661.015 (đã qua sử dụng), không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cho bị cáo nhận lại;
  • - Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe Honda SH Mode màu trắng – đen; biển số 65D1-310.68, cho ông Phạm Đông H xong.

[6]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Chiêm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Chiêm Minh T 03 (ba) năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 01/4/2023;

Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau khi giám định trong gói niêm phong số 110/KL-KTHS, ngày 07/4/2023;
  • - Cho bị cáo nhận lại 01 điện thoại di động Oppo màu đen kèm 2 sim số 0528.648.363; 0907.661.015 (đã qua sử dụng),
  • (các vật chứng trên được tạm giữ tại cơ quan thi hành án quận N, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/7/2023).

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạc hợp lệ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án TP Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát Q. Ninh Kiều;
  • - Nhà tạm giữ Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Thi hành án DS Q. Ninh Kiều;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - Lưu hồ sơ; Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Đỗ Thị Lệ Hằng Nguyễn Minh Phương Nguyễn Thị Thùy Linh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2023/HSST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 136/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger