|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thanh Xuân,
Ông Nguyễn Văn Tính.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 657/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1769/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ C, sinh năm 1989.
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B Đường A, khu dân cư B, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Số B Đường A, khu dân cư Á, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông H, Lam S, sinh năm 1977.
Địa chỉ: PO B G New Falls Road L PA: 19055-9998, USA.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H, Lam S đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22, ngày 06/9/2016 do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được dù đã cố gắng hòa giải. Năm 2019 ông H, Lam S trở về Hoa Kỳ sinh sống cho đến nay không quay lại Việt Nam. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H, Lam S.
Về con chung: Bà và ông H, Lam S có 01 (Một) con chung tên Huỳnh Phúc L (giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2016, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H, Lam S phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông H, Lam S không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà và ông H, Lam S không có nợ chung.
Đối với bị đơn ông H, Lam S hiện đang cư trú tại H chúng quốc Hoa Kỳ, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông H, Lam S về việc bà Võ Thị Mỹ C yêu cầu ly hôn với ông H, Lam S, nhưng ông H, Lam S không cung cấp cho Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về thời gian mở phiên tòa đối với ông H, Lam S nhưng ông H, Lam S vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Mỹ C. Về con chung, giao trẻ Huỳnh Phúc L (giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2016, cho bà Võ Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng, và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với ông H, Lam S. Về tài sản chung, nợ chung, bà Võ Thị Mỹ C khai không có nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngày 19/10/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhận được đơn khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ C đang cư trú tại Việt Nam yêu cầu xin được ly hôn với ông H, Lam S hiện đang cư trú tại H chúng quốc Hoa Kỳ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng:
Nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ C có văn bản đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Ngày 17/3/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 155/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi đến Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của H1 chúng quốc Hoa Kỳ tiến hành việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông H, Lam S đang cư trú tại H1 chúng quốc Hoa Kỳ.
Ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Công văn số 2284/BTP-PLQT ngày 28/9/2023 của Bộ Tư pháp cho biết cơ quan có thẩm quyền của H1 chúng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác tư pháp. Nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ C có lời khai ngoài địa chỉ nêu trên, bà Võ Thị Mỹ C không biết địa chỉ nào khác của ông H, Lam S tại H1 chúng quốc Hoa Kỳ.
Ngày 11/01/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 71/TATP-TGĐVNCTN về việc tống đạt, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án đối với đương sự ở nước ngoài gửi Đ tại H1 chúng quốc Hoa Kỳ để tiến hành việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên tòa xét xử vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông H, Lam S đang cư trú tại H1 chúng quốc Hoa Kỳ.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập, có cơ sở để xác định rằng mục đích hôn nhân giữa bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S đã không đạt được. Về phía ông H, Lam S, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm cho ông H, Lam S, nhưng ông H, Lam S vắng mặt, cũng không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông H, Lam S không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Võ Thị Mỹ C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Võ Thị Mỹ C được ly hôn đối với ông H, Lam S là có căn cứ để chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 11, của trẻ Huỳnh Phúc L đăng ký tại Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai ngày 01/11/2016, xác định trẻ Huỳnh Phúc L (giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2016, là con chung của bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S. Bà Võ Thị Mỹ C có lời khai cho biết hiện trẻ Huỳnh Phúc L đang sống cùng mẹ, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H, Lam S phải cấp dưỡng nuôi con.
Trẻ Huỳnh Phúc L có văn bản trình bày nguyện vọng muốn được sống cùng mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao trẻ Huỳnh Phúc L cho bà Võ Thị Mỹ C là người trực tiếp nuôi dưỡng, và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H, Lam S do bà Võ Thị Mỹ C không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mỹ C xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ C xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Mỹ C là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Võ Thị Mỹ C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ C như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ C được ly hôn với ông H, Lam S. Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Mỹ C và ông H, Lam S chấm dứt; Giấy chứng nhận kết hôn số 22, ngày 06/9/2016 do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Phúc L (giới tính: Nam), sinh ngày 25/02/2016 cho bà Võ Thị Mỹ C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H, Lam S do bà Võ Thị Mỹ C không có yêu cầu.
Ông H, Lam S có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Bà Võ Thị Mỹ C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con, nếu ông H, Lam S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan Quản lý Nhà Nước về Gia đình; Cơ quan Quản lý Nhà Nước về Trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mỹ C xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ C xác nhận không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Mỹ C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Võ Thị Mỹ C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003704 ngày 13/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Võ Thị Mỹ C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Bà Võ Thị Mỹ C vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Võ Thị Mỹ C là 15 ngày, kể từ ngày bà Võ Thị Mỹ C được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông H, Lam S không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 136/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 136/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà C yêu cầu ly hôn
