Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Quang Vinh

Ông Trần Viết Ty

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/6/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, vắng mặt.
  2. Nơi ĐKHKTT: Thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Số E phố G, tầng A, trung tâm H, Ma Cao - Trung Quốc.

    Người được chị H ủy quyền nộp và nhận văn bản tố tụng: Chị Trần thị T1 – Địa chỉ: Số D L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh H1, sinh năm 1991, vắng mặt.
  4. Nơi ĐKTT: Thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2024; ngày 19/02/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ngày 27/4/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh hóa.

Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, có những lúc vợ chồng cũng xảy ra mâu thuẫn, xích mích nhưng vẫn cố gắng cùng nhau giải hòa, gìn giữ hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên đến năm 2018, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do anh H1 không tập trung, tu chí làm ăn dẫn đến cuộc sống gia đình khó khăn, vợ chồng liên tục xảy ra bất hòa. Tháng 3/2019 chị đi xuất khẩu lao động tại Ma Cao – Trung Quốc. Vì khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh H1.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Gia H2, sinh ngày 10/3/2016. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu H2 cho bố là Nguyễn Anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị đóng góp cấp dưỡng tiền nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng. Cháu Nguyễn Gia H2 có nguyện vọng được ở với bố.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Đối với anh Nguyễn Anh H1: Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng: Gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa án làm việc nhưng anh H1 không có mặt.

[3] Tại Biên bản làm việc ngày 05/5/2025 ông Nguyễn Văn S, bà Phan Thị H3 (bố mẹ đẻ anh H1) trình bày:

Anh H1 và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q. Sau khi kết hôn anh H1, chị H về ở cùng ông bà mấy năm, sau đó chị H đi học tiếng và đầu năm 2019 đi xuất khẩu lao động tại Ma Cao – Trung Quốc. Từ khi đi đến nay chị H có về thăm gia đình được khoảng 2 đến 3 lần. Quá trình chung sống ông bà không thấy vợ chồng anh H1, chị H có mâu thuẫn gì lớn. Việc chị H làm đơn ly hôn thì anh H1 cũng biết, vợ chồng ông bà cũng đã có trao đổi với anh H1 nên bàn bạc giải quyết với nhau cho rõ ràng, tuy nhiên anh H1 có nói việc chị H ly hôn anh không có ý kiến, đề nghị Tòa giải quyết theo yêu cầu của chị H. Quan điểm của ông bà: Việc ly hôn hay không ly hôn do anh H1, chị H quyết định, ông bà không có ý kiến gì. Về con chung: Vợ chồng anh H1, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H2 sinh ngày 10/3/2016, hiện nay cháu H2 đang ở cùng anh H1 và vợ chồng ông bà. Về tài sản: Theo ông bà biết thì vợ chồng anh H1, chị H không có tài sản chung và cũng không nợ ai.

Hiện anh H1 đi làm nên không có mặt ở nhà nhưng anh H1 vẫn thường xuyên về với con. Nay Tòa án giao Thông báo thụ lý vụ án số 31 ngày 05/3/2025 cho anh H1, do anh H1 không có mặt ở nhà nên ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng do Tòa án giao và có trách nhiệm thông báo ngay cho anh H1 biết cũng như giao lại cho anh H1.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh H1. Về con: Giao cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 10/3/2016 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000đ. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Anh Nguyễn Anh H1 là bị đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H đăng ký thường trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Ma Cao - Trung Quốc. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật, bị đơn không có mặt tại Tòa án để làm việc, không có ý kiến gì về việc chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Anh H1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị H đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn nhiều năm nay, tình cảm vợ chồng thực sự không còn. Từ năm 2018 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn bất đồng; Năm 2019 chị đi làm ăn xa ở Ma Cao – Trung Quốc. Tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn sự quan tâm chăm sóc và liên lạc với nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 10/3/2016. Hiện chị H đang ở nước ngoài và có ý kiến đề nghị Tòa án giao cháu H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của cháu H2 là muốn được ở với bố. Do đó để đảm bảo các điều kiện về mọi mặt cho con cần giao cháu Nguyễn Gia H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng tiền nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với anh H1 sau này nếu yêu cầu thì có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
  2. - Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh H1.

    - Về con: Công nhận cháu Nguyễn Gia H2 sinh ngày 10/3/2016 là con chung của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh H1. Giao cháu Nguyễn Gia H2 cho anh Nguyễn Anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng, kể từ tháng 6 năm 2025 đến khi cháu Nguyễn Gia H2 đủ 18 tuổi.

    Chị H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    - Về tài sản: Chị H không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000₫ theo Biên lai thu số 0000555 ngày 25/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa; Chị H còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo:
  5. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật

    Anh Nguyễn Anh H1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 136/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị Nguyễn Thị H làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger