Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 136/ 2025/HS-ST

Ngày: 17/3/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hẳng

2. Ông Nguyễn Đình Vụ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2025/ HSST ngày 07/02/ 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST- HS ngày 04/3/ 2025 đối với bị cáo:

Trần Đăng L, (Tên gọi khác: Lân DJ); Sinh năm 1993; Nơi thường trú: Số nhà B L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Trần Đăng S, Sinh năm 1960; Con bà: Hoàng Thị X, sinh năm 1970; Vợ: Lê Thị Thanh N, Sinh năm: 1997; Có 01 con nhỏ sinh năm 2022;Tiền án: Không;Tiền sự: Ngày 06/03/2023 Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 28/03/2023 UBND thành phố T xử phạt Vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

1.Chị Đỗ Thị H, sinh năm

Địa chỉ: Nhà A Chung cư Đ, Phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

2. Chị Trần Thị N1, sinh năm 1992

Đại chỉ: SN 792 N, Phường P, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

3. Chị Đào Thị H1, sinh năm 1987

Địa chỉ: SN E L, Phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt bị cáo, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích vụ lợi, nên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024, Trần Đăng L đã cho 03 người dân trên địa bàn thành phố T vay tiền dưới hình thức vay thăm, khách vay nhận tiền mặt và viết giấy vay tiền để làm tin, tiền lãi thu trước, tiền gốc trả góp hàng ngày đưa trực tiếp cho L, mỗi gói thăm kết thúc trong khoảng thời gian từ 29-50 ngày, với lãi suất từ 4000 đồng/01triệu/01ngày, tương đương với lãi suất từ 146%/ năm đến 251%/ năm, tuỳ vào số ngày trả, gấp từ 7,3 đến 13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, đã thu lời bất chính 48.451.647 đồng, cụ thể L cho vay như sau:

1. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1992, trú tại Nhà A Chung cư Đ, phường Đ, thành phố T vay tổng cộng 09 gói vay thăm trong khoảng thời gian từ 30-50 ngày, với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày tương ứng với lãi suất 146%/năm đến 243%/năm, gấp 7,3 đến 12,15 lần so với mức lãi suất tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự gồm:

Ngày 19/01/2024, chị H vay của L số tiền 10.000.000 đồng, L cắt lãi trước 2.000.000 đồng, chị H thực nhận về 8.000.000 đồng, L yêu cầu chị H đóng tiền gốc trong vòng 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ. Đối với gói vay trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L là 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/02/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/03/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là:

2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/04/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng, số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/05/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng, số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/06/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/07/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000đ(lãi suất 243%) gấp 12,15 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 164.400 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.835.600 đồng.

Ngày 19/08/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000đ(lãi suất 146%) gấp 7,3 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 274.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.726.000 đồng.

Ngày 19/10/2024, chị H vay tiếp L số tiền 10.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên, chị H đã trả hết tiền gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị H đã trả cho L 12.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 2.000.000₫(lãi suất 146%) gấp 7,3 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 274.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 1.726.000 đồng.

Trần Đăng L sử dụng tiền của gói vay thứ nhất để cho chị H vay tiếp các gói vay sau, nên số tiền gốc mà L sử dụng cho chị H vay là 10.000.000 đồng. Số tiền lãi đã thu là 18.000.000 đồng, số tiền lãi được phép thu theo quy định: 1.698.800 đồng (một triệu sáu trăm chín tám nghìn tám trăm đồng), thu lời bất chính: 16.301.200 đồng (mười sáu triệu ba trăm lẻ một nghìn hai trăm đồng).

2. Chị Trần Thị N1, sinh năm 1992, trú tại số nhà G N, phường P, thành phố T vay tổng cộng 07 gói vay thăm, trong khoảng thời gian 30-50 ngày với lãi suất 4.000đồng/1.000.000 đồng/ngày tương ứng với lãi suất 146%/năm đến 243%/năm, gấp 7,3 đến 12 lần so với mức lãi suất tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự gồm:

Ngày 06/01/2024, chị N1 vay của L số tiền 15.000.000 đồng, L cắt lãi trước 3.000.000 đồng, chị N1 thực nhận về 12.000.000 đồng, L yêu cầu chị N1 đóng tiền gốc trong 50 ngày mỗi ngày thu 300.000đ. Đối với gói vay này chị N1 trả hết tiền gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc lãi chị N1 đã trả cho L tổng cộng 18.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000đ(lãi suất 146%) gấp 7,3 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 411.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.589.000 đồng.

Ngày 15/03/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15%, số tiền lãi được thu theo quy định: 246.600 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.753.400 đồng.

Ngày 15/04/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền lãi, gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 146% gấp 7,3 lần), số tiền lãi được thu theo quy định: 411.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.589.000 đồng.

Ngày 15/06/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền lãi, gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 146% gấp 7,3 lần), số tiền lãi được thu theo quy định: 411.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.589.000 đồng.

Ngày 15/08/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền lãi, gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15%, số tiền lãi được thu theo quy định: 246.600 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.753.400 đồng.

Ngày 15/09/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền lãi, gốc cho L trong vòng 30 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 243%) gấp 12,15%, số tiền lãi được thu theo quy định: 246.600 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.753.400 đồng.

Ngày 15/10/2024, chị N1 vay tiếp L số tiền 15.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị N1 trả hết tiền lãi, gốc cho L trong vòng 50 ngày, tổng số tiền gốc, lãi chị N1 đã trả cho L là 18.000.000 đồng. Trong đó: tiền lãi L đã thu được là: 3.000.000₫ (lãi suất 146% gấp 7,3 lần), số tiền lãi được thu theo quy định: 411.000 đồng số tiền thu lời bất chính: 2.589.000 đồng.

Trần Đăng L sử dụng tiền của gói vay thứ nhất để cho chị N1 vay tiếp các gói vay sau, nên số tiền gốc mà L sử dụng cho chị H vay là 15.000.000 đồng. Số tiền lãi đã thu là 21.000.000 đồng, số tiền lãi được phép thu theo quy định: 2.383.800

đồng (hai triệu ba trăm tám mươi ba nghìn tám trăm đồng), thu lời bất chính: 18.616.200 đồng (mười tám triệu sáu trăm mười sáu nghìn hai trăm đồng).

3. Chị Đào Thị H1, sinh năm 1987, trú tại số nhà E L, phường Đ, thành phố T vay tổng cộng 03 gói vay thăm trong khoảng thời gian 29-50 ngày, với lãi suất 4.000đồng/1.000.000đồng/ngày tương ứng với lãi suất 178%/năm đến 251%/năm, gấp 8,9 đến 13 lần so với mức lãi suất tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự gồm:

Ngày 03/9/2024, chị H1 vay của L số tiền 25.000.000 đồng, L cắt lãi trước 5.000.000 đồng, chị N1 thực nhận về 20.000.000 đồng, L yêu cầu chị H1 đóng tiền gốc trong 50 ngày mỗi ngày thu 500.000 đồng. Đối với gói vay này chị H1 trả hết tiền gốc cho L trong vòng 29 ngày, tổng số tiền gốc lãi chị H1 đã trả cho L là 30.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 5.000.000₫ (lãi suất 251%) gấp 13 lần, số tiền lãi được thu theo quy định: 397.260 đồng, số tiền thu lời bất chính: 4.602.740 đồng.

Ngày 01/10/2024, chị H1 vay tiếp L số tiền 25.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị H1 trả hết tiền gốc cho L trong vòng 42 ngày, tổng số tiền gốc lãi chị H1 đã trả cho L là 30.000.000 đồng. Trong đó: Số tiền lãi L đã thu được là: 5.000.000₫(lãi suất 178% gấp 8,9 lần), số tiền lãi được thu theo quy định: 575.342 đồng số tiền thu lời bất chính: 4.424.658 đồng.

Ngày 11/11/2024, chị H1 vay tiếp L số tiền 25.000.000 đồng cùng hình thức và lãi suất như trên. Chị H1 trả hết tiền gốc cho L trong vòng 36 ngày, tổng số tiền gốc lãi chị H1 đã trả cho L là 30.000.000 đồng. Trong đó: số tiền lãi L đã thu được là: 5.000.000₫ (lãi suất 208% gấp 10,4 lần), số tiền lãi được thu theo quy định: 493.151 đồng số tiền thu lời bất chính: 4.506.819 đồng.

Trần Đăng L sử dụng tiền của gói vay thứ nhất để cho chị H1 vay tiếp các gói vay sau nên số tiền gốc mà L sử dụng cho chị H1 vay là 25.000.000 đồng. Số tiền lãi đã thu là 15.000.000 đồng, số tiền lãi được phép thu theo quy định: 1.465.753 đồng (một triệu bốn trăm sáu lăm nghìn bảy trăm năm ba nghìn đồng), thu lời bất chính: 13.534.247 đồng (mười ba triệu năm trăm ba tư nghìn hai trăm bốn bảy nghìn đồng).

Tổng cộng bị cáo Trần Đăng L đã sử dụng số tiền gốc là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) cho Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 vay. Số tiền lãi L thu là 54.000.000 đồng; số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 5.548.353 đồng (năm triệu năm trăm bốn tám nghìn ba trăm năm ba đồng) và số tiền thu lời bất chính là 48.451.647 (bốn mươi tám triệu bốn trăm năm mốt nghìn sáu trăm bốn bảy đồng).

Quá trình khám xét tại chỗ ở của Trần Đăng L không thu giữ được đồ vật, tài liệu, vật chứng gì liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Về biện pháp tư pháp:

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử giữa chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 với bị cáo Trần Đăng L đã thoả thuận bồi thường xong số tiền lãi thu lời bất chính.

Do đó chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 không có yêu cầu gì về phần dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan CSĐTrần Đăng L đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 62/ CT-VKSTPTH ngày 06/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Trần Đăng L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, b,s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Đại diện VKS đề nghị HĐXX: Tuyên bố Trần Đăng L phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ".

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Phạt tiền từ 50.000.000₫ đến 70.000.000₫.

Hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền Trần Đăng L dùng để cho vay là 50.000.000đ và toàn bộ số tiền lãi được nhận theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N2 là 5.548.353 đồng (năm triệu năm trăm bốn tám nghìn ba trăm năm ba đồng). Khoản tiền này Trần Đăng L đã tự nguyện nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hoá.

Đối với số tiền Trần Đăng L thu lời bất chính của chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 các bên đã thoả thuận bồi thường xong và chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 không có yêu cầu gì về phần dân sự.Nên công nhận đã được giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024, Trần Đăng L đã sử dụng 50.000.000 đồng cho Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 vay thăm, tiền lãi trả trước, tiền gốc trả góp hàng ngày, mỗi gói thăm kết thúc trong khoảng thời gian từ 29-50 ngày với lãi suất từ 4000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với lãi suất từ 146%/năm đến 251%/năm gấp từ 7,3 đến 13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng tiền lãi đã thu: 54.000.000 đồng (trong đó: lãi thu theo quy định là 5.548.353 đồng, tiền thu lời bất chính là 48.451.647 đồng).

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự .

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Đăng L về tội “ “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hiện nay hoạt động cho vay nặng lãi đang diễn ra thường xuyên và ngày càng phức tạp. Hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra hoạt động cho vay nặng lãi còn làm cho nhiều người phải tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, gia đình ly tán và nó còn là nguyên nhân làm gia tăng hoạt động bạo lực, uy hiếp sử dụng vũ lực, chiếm đoạt, cưỡng đoạt tài sản của người vay hoặc người thân trong gia đình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Tự nguyện trả lại số tiền thu lời bất chính cho người vay; Tự nguyện nộp số tiền truy thu và Đầu thú hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm i,b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Trong vụ án này do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp:

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Trần Đăng L dùng để cho vay là 50.000.000₫ và toàn bộ số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N2 là 5.548.353 đồng. Toàn bộ số tiền truy thu bị cáoTrần Đăng L1 đã tự nguyện nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, theo biên lai thu số 0000877 ngày 05 tháng 3 năm 2025. Do đó bị cáo đã thi hành xong khoản tiền truy thu.

Đối với số tiền Trần Đăng L thu lời bất chính của chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 các bên đã thoả thuận bồi thường xong và chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 không có yêu cầu gì về phần dân sự. Nên công nhận đã được giải quyết xong.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, b,s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Điều 331; Khoản 1 Điều 333; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng L phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ".

Xử phạt: Phạt tiền Trần Đăng L 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu của bị cáo Trần Đăng Lân để tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với toàn bộ số tiền gốc Trần Đăng L dùng để cho vay là 50.000.000₫ và toàn bộ số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N2 là 5.548.353 đồng. Tổng số tiền truy thu của bị cáo Trần Đăng Lân để nộp ngân sách nhà nước là 55.548.353 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền bị cáo Trần Đăng Lân đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo biên lai thu số 0000877 ngày 05 tháng 3 năm 2025 là 55.548.353 đồng ( Bị cáo Trần Đăng L đã thi hành xong số tiền truy thu).

Đối với số tiền lãi Trần Đăng L thu lời bất chính của chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 các bên đã thoả thuận bồi thường xong và chị Đỗ Thị H, Trần Thị N1Đào Thị H1 không có yêu cầu gì về phần dân sự. Nên công nhận đã được giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự)

  • Số bản án: 136/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng Đăng L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger