|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2025/DS-PT Ngày 11-3-2025 V/v tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Thắm |
| Ông Nguyễn Văn Thanh. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 737/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 49/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965; địa chỉ: khu phố I, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Ông Châu Văn L, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số A, Nguyễn Thị T, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trần Thị H3, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ G, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1965; địa chỉ: khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lê Thị Bích T1, sinh năm 2001; địa chỉ: tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt ngày 4/3, vắng mặt ngày 11/3.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1980, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lương Thị H5, sinh năm 1958, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trịnh Phục M, chức vụ: Phó trưởng Phòng T7 (nay là thành phố) B, là người đại diện theo ủy quyền ngày 16/8/2024), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo: bị đơn bà Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2022, Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 06/6/2023 và ngày 03/10/2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông Trần Văn D, sinh năm 1935, chết ngày 22/6/2010 (có giấy chứng tử). Ông D có quan hệ nhân thân như sau:
Cha ông Diệm là cụ Trần Văn L1, sinh năm 1902, chết ngày 26/3/1990 (không có giấy chứng tử).
Mẹ ông D là cụ Phan Thị T4, sinh năm 1902, chết trước năm 1975 (không có giấy chứng tử)
Trước năm 1975, ông D chung sống với bà Châu Thị L2, sinh năm 1938, chết ngày 06/3/1973 (có giấy chứng tử). Ông D và bà L2 có 04 người con chung gồm:
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1960.
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1965.
- Ông Châu Văn L, sinh năm 1969.
- Ông Trần Văn T5 (tên gọi khác là H6), sinh năm 1958, chết năm 1975 (không có giấy chứng tử). Trước khi chết, ông T5 không có vợ con.
Sau khi bà L2 chết, từ năm 1976, ông D chung sống với bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1938, chết ngày 02/6/2020 (có giấy chứng tử). Ông D và bà R có 02 người con chung gồm:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976.
- Bà Trần Thị H3, sinh năm 1979.
Trước khi chung sống cùng ông D, bà R chung sống cùng ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1936 (đã chết, không có giấy chứng tử). Bà R và ông T6 có 02 người con chung gồm:
- - Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1958, chết ngày 07/01/2018 (có giấy chứng tử). Trước khi chết, ông P có vợ là bà Lương Thị H5, sinh năm 1958. Ông P và bà H5 có 04 người con chung gồm:
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1980.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1989.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981.
- - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965.
Ngoài ra, bà R còn có cha mẹ như sau:
Cha bà R là cụ Nguyễn Văn M1, sinh năm 1894, chết ngày 10/01/1979 (không có giấy chứng tử).
Mẹ là R là cụ Nguyễn Thị R1, sinh năm 1903, chết ngày 22/9/1972 (không có giấy chứng tử).
Ngoài các người con riêng, con chung nêu trên, ông D và bà R không có người con nào khác, kể cả con nuôi.
Trước khi chết, ông D, bà L2, bà R không để lại di chúc.
Quá trình chung sống, ông D và bà L2 không có tài sản chung.
Ông D được cha mẹ ông để lại phần đất thuộc thửa số 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có tổng diện tích 8.446,8m² từ năm 1976. Các thửa đất này là tài sản riêng của ông D. Ông D dùng để trồng lúa. Bà L2 không có công sức đóng góp đối với các thửa đất này. Khi chung sống cùng ông D, bà R phụ giúp ông cải tạo đất, trồng lúa trên đất. Sau này, trồng lúa không kinh tế nên ông D và bà R để đất trống. Sau khi bà R chết, không ai trong gia đình trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng các thửa đất này.
Quá trình chung sống, ông D và bà R có tạo lập tài sản chung như sau:
1. Phần đất thuộc thửa số 310, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có diện tích 2.436,8m². Nguồn gốc đất do ông D và bà R khai phá từ năm 1976. Sau khi khai phá, ông D và bà R cải tạo đất để trồng cây thuốc lá, mì, mía, tum cao su. Năm 2011, bà H1 trồng cao su và làm hàng rào trên đất. Lúc trồng, bà H1 không hỏi ý kiến ai trong gia đình và cũng không ai có ý kiến gì về việc bà H1 trồng cao su. Hiện nay, bà H1 đang quản lý, sử dụng đối với phần đất này.
2. Phần đất thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có diện tích 7.967,6m². Nguồn gốc đất do ông D và bà R khai phá năm 1976. Sau khai phá, ông D và bà R cải tạo đất để trồng cây điều, xây một căn nhà cấp 4 để ở và làm hàng rào xung quanh đất. Vị trí nhà mà ông D, bà R xây là nhà hiện nay do bà H1 đang ở. Đến nay, nhà vẫn còn nguyên hiện trạng, bà H1 chỉ làm nền xi măng, còn lại không tu sửa gì. Trước năm 2000, ông D và bà R phá bỏ cây điều để trồng cây cao su, cây ăn trái xung quanh nhà và cây tầm vong. Năm 2006, Nhà nước tặng cho ông D một căn nhà tình nghĩa. Lúc còn sống, ông D và bà R sinh sống ở cả hai căn nhà.
Bà H sống cùng với ông D, bà R từ nhỏ, có công phụng dưỡng, chăm sóc ông D và bà R cho đến khi ông bà qua đời. Năm 2010, ông D chết, bà R và bà H sống cùng nhau trong căn nhà tình nghĩa. Cũng trong năm 2010, bà H xây thêm một phần nhà ở và nhà tạm phía sau nhà tình nghĩa. Bà H cũng xây thêm chuồng heo, chuồng gà.
Các ngôi mộ gắn liền với thửa đất số 280 là mộ của ông D, ông T5, bà L2 do bà H quản lý, thờ cúng. Ngoài ra, trên đất còn có một ngôi mộ không phải của người trong gia đình, quá trình giải quyết vụ án đã di dời sang nơi khác.
Bà H2, bà H3 sống chung cùng ông D, bà R cho đến khi bà H2, bà H3 lập gia đình. Ông L sống chung với ông D, bà R cho đến năm 1990 thì ông L sống riêng. Khoảng năm 2012, ông L về cất nhà trên thửa đất số 280. Còn bà H1 và bà C không sống chung với ông D, bà R. Bà H, bà H3, bà H2, bà C, bà H1, ông L không có công sức đóng góp gì đối với các thửa đất số 310, 280, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64.
Bà H khởi kiện chia thừa kế đối với các thửa đất số 310, 280, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64, tờ bản đồ số 34 cùng toàn bộ tài sản gắn liền với các thửa đất trên theo quy định pháp luật.
Nay bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày trong suốt quá trình tham gia tố tụng, bà H không có ý kiến gì thêm. Bà H cũng không yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản tranh chấp. Đề nghị Toà án căn cứ vào kết quả tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2022 được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 2, 3, 4 - 2023, hệ tọa độ V - 2000, tờ bản đồ số 34 (229562-2) ngày 13/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B và giá trị tài sản đã được định giá tại Biên bản định giá tài sản tài sản ngày 08/12/2022. Bà H không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị H1 trình bày:
Bà H1 thống nhất với quan hệ nhân thân huyết thống của ông D, bà R, bà L2 như bà H trình bày.
Trước khi chết, ông D, bà L2, bà R không để lại di chúc.
Quá trình chung sống, ông D và bà L2 có tạo lập tài sản chung như sau:
1. Phần đất thuộc thửa số 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có tổng diện tích 8.446,8m². Nguồn gốc đất do ông D nhận chuyển nhượng từ người khác. Cụ thể:
- Lần đầu: năm 1991, ông D nhận chuyển nhượng bằng lời nói từ họ hàng của bà R các thửa đất số 9, 22, 23, 64 (thông tin họ hàng cụ thể là ai thì bà H1 không nắm rõ). Số tiền nhận chuyển nhượng là từ tiền và vàng (không nắm rõ bao nhiêu) do bà L2 chết để lại. Số tiền và vàng này do bà Hà G, khi nhận chuyển nhượng, ông D yêu cầu bà H1 đưa lại.
- Lần 2: năm 1995, ông D nhận chuyển nhượng bằng lời nói thửa đất số 24, 61, 62 từ người khác. Số tiền nhận chuyển nhượng là do ông D chuyển nhượng thửa số 164, 176, 177, tờ bản đồ 35 cho ông Hai P1 (giấy tờ các thửa đất này, bà H1 không còn giữ). Nguồn gốc các thửa đất số 164, 176, 177 do ông D lấy tiền của bà L2 để nhận chuyển nhượng từ ông Hai P1 (hiện nay đang bị tai biến), sau đó lại chuyển nhượng ngược lại cho ông P1.
Ông D sử dụng các thửa đất số 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64 để trồng lúa. Bà R không có công sức trong việc cải tạo, canh tác đối với các thửa đất này. Năm 2010, do trồng lúa không kinh tế, ông D già yếu nên để đất trống cho đến nay. Hiện nay, không ai quản lý, sử dụng đối với các thửa đất này. Hồ sơ gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nguồn gốc là cha mẹ để lại năm 1976 là không đúng.
2. Phần đất thuộc thửa số 310, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có diện tích 2.436,8m². Nguồn gốc đất do ông D và bà L2 nhận chuyển nhượng từ trước năm 1975. Tháng 9/1975, bà H1 và ông L1 đến để khai hoang, sử dụng. Sau khai hoang, bà H1 và ông L1 xây dựng một căn nhà cấp 4 và trồng cây mì. Năm 1989, bà H1 lập gia đình và sống tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L1 tiếp tục quản lý, sử dụng đất cho đến khi ông L1 chết. Sau khi ông L1 chết, ông D quản lý, sử dụng phần đất này. Năm 2010, ông D chết nên để lại phần đất này cho bà H1 quản lý, sử dụng, trồng cao su cho đến nay. Bà R không có đóng góp công sức đối với phần đất này.
3. Phần đất thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34, qua đo đạc thực tế có diện tích 7.967,6m². Nguồn gốc đất do bà L2 và ông L1 nhận chuyển nhượng bằng lời nói từ người khác trước năm 1973 (thông tin người chuyển nhượng, bà H1 không nắm rõ). Sau khi nhận chuyển nhượng, bà L2 và ông L1 cải tạo đất để trồng cây điều. Sau khi bà L2 chết, ông L1 tiếp tục quản lý, sử dụng. Năm 1975, ông L1 xây dựng một căn nhà cấp 04 trên đất. Sau năm 1975, ông D cùng ông L1 sử dụng đất này. Trước khi ông L1 chết, ông L1 chia phần đất này cho ông D quản lý, sử dụng. Năm 1990, ông D trồng cao su trên đất. Các cây ăn trái xung quanh nhà và cây tầm vong do ông D và bà H1 trồng. Năm 2006, Nhà nước tặng cho ông D một căn nhà tình nghĩa. Bà R không có đóng góp công sức đối với thửa đất số 280.
Bà H sống chung với ông D, bà R từ nhỏ cho đến khi ông bà chết. Khi ông D chết, ông để lại căn nhà tình nghĩa cho bà H và bà R ở. Bà H có xây thêm một phần nhà phía sau và nhà tạm nối liền với nhà tình nghĩa, xây thêm chuồng heo, chuồng gà. Bà H là người chăm sóc, phụng dưỡng bà R và ông D cho đến khi ông bà qua đời. Năm 2010, bà H1 và ông K đến thửa đất số 280 để sinh sống. Bà H1 sống trong căn nhà do ông L1 xây và có xây thêm chuồng gà và làm hàng rào lưới nhựa xung quanh nhà. Khoảng năm 2011, ông L về xây dựng một căn nhà cấp 04 gắn liền với phần đất này.
Các người con chung, con riêng của ông D, bà R đều thờ cúng, nhang khói đối với mộ của ông D, ông T5, bà L2. Ngoài ra còn một ngôi mộ không biết tên đã di dời sang nơi khác.
Hồ sơ gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện thông tin ông D khai phá vào năm 1976 là không đúng.
Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H1 không đồng ý. Bà H1 yêu cầu chia cho bà thửa đất số 310. Đối với thửa đất số 280 và các thửa đất số 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64, bà H1 yêu cầu chia cho ông D, bà L2, mỗi người là ½ . Phần của bà L2 sẽ chia cho bà H1, bà C, ông L. Phần của ông D sẽ chia cho bà H3, bà H, bà H1, bà C, ông L. Bà H1 không đồng ý chia cho bà H2 vì bà H2 không phải là con cái trong gia đình.
Nay bà H1 giữ nguyên nội dung đã được bà H1 khai trong bản tự khai đề ngày 06/9/2024, do đó bà H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật một cách công bằng để đảm bảo quyền lợi cho bà H1.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H3 trình bày:
Bà H3 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà H có trong hồ sơ vụ án.
Sau khi nghe đoạn ghi âm có thời lượng 05 phút 52 giây ngày 24/01/2022. Bà H3 nhận ra giọng nói trong đoạn ghi âm là của bà H3. Bà H3 có tham gia họp bàn gia đình vào ngày 24/01/2022 tại nhà ông L. Ngày hôm đó có bà H1, bà H3, bà H, ông N1, ông L. Tại buổi nói chuyện, các bên có bàn bạc về vấn đề chia thừa kế các thửa đất số 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64. Tuy nhiên, đoạn ghi âm mà bà H3 nghe được, các bên chỉ nói về thửa đất số 310. Ý kiến của các bên trong đoạn ghi âm chỉ thể hiện mọi người trong gia đình dự tính để thửa đất số 310 cho bà H1 canh tác, sử dụng theo nguyện vọng của ông L1. Vì tôn trọng ý kiến của ông L1 nên mọi người mới đưa ra ý kiến như vậy chứ thực tế, thửa đất này là của ông D, bà R. Đoạn ghi âm cũng không thể hiện ý kiến các đồng thừa kế thừa nhận nguồn gốc đất theo như bà H1 trình bày. Các bên cũng bất đồng ý kiến nên buổi thỏa thuận không thành.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H3 thống nhất. Nếu được chia, bà H3 xin nhận phần được chia theo quy định pháp luật. Ngoài ra, bà H3 không có ý kiến, yêu cầu gì đối với bà H, bà H1, các đương sự khác trong vụ án và vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 trình bày:
Bà H2 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà H có trong hồ sơ vụ án.
Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, bà H2 thống nhất. Nếu được chia, bà H2 xin nhận phần được chia theo quy định pháp luật. Đối với thửa đất số 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64 bà H2 xin nhận phần được chia bằng tiền. Ngoài ra, bà H2 không có ý kiến, yêu cầu gì đối với bà H, bà H1, các đương sự khác trong vụ án và vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Văn L thống nhất trình bày:
Ông L thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà H1 có trong hồ sơ vụ án.
Sau khi nghe đoạn ghi âm có thời lượng 05 phút 52 giây ngày 24/01/2022. Giọng nói trong đoạn ghi âm là của ông L. Ông L có tham gia họp bàn gia đình vào ngày 24/01/2022. Ngày hôm đó có sự tham gia của bà H1, ông N1, bà H3, bà H và con của ông N1, bà C là ông Trần Minh N2. Các bên có bàn bạc về vấn đề chia thừa kế các thửa đất 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64. Tuy nhiên, đoạn ghi âm mà ông L được nghe thì các bên chỉ nói về thửa đất số 310. Thực tế, trong ngày hôm đó, ông L, ông N1, bà H3 dự tính để thửa đất số 310 (đất mương) cho bà H1 canh tác, sử dụng vì trước đó, ông L1 muốn để phần đất này cho bà H1. Đoạn ghi âm không thể hiện ý kiến của của mọi người về nguồn gốc của thửa đất số 310.
Nay, đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, ông L không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà H. Ông thống nhất với cách chia thừa kế của bà H1 đối với thửa đất số 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ông K là chồng của bà H1 và đang sống cùng bà H1 trong căn nhà cấp 4, gắn liền với thửa đất số 280. Ông K thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà H1 có trong hồ sơ vụ án. Ông K có công sức đóng góp trong việc cải tạo, trồng cao su trên phần đất thuộc thửa đất số 310 từ năm 2011 cho đến nay. Đối với các thửa đất số 280, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64 thì ông K không có công sức đóng góp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, ông K không đồng ý. Ông K thống nhất với ý kiến của bà H1 về cách chia thừa kế đối với các thửa đất đất 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích T1 trình bày:
Bà T1 là con ruột của bà H, sống cùng bà H trong căn nhà tình nghĩa từ nhỏ cho đến nay.
Việc bà H tranh chấp chia thừa kế đối với các thửa đất số 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64 với bà H1, bà T1 không biết gì về việc này. Bà T1 không có công sức đóng góp gì đối với các thửa đất 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64.
Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, bà T1 không có ý kiến. Đây là tranh chấp riêng của bà H với bà H1 nên bà T1 không có yêu cầu gì đối với bà H, bà H1, các đương sự khác trong vụ án và vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị Cẩm N, bà Lương Thị H5 và ông Nguyễn Văn T2 thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1958, chết năm 2018 (có giấy chứng tử).
Ông P có quan hệ nhân thân như sau:
Cha là ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1936, không rõ năm chết, chết trước ông P (không có giấy chứng tử).
Mẹ là bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1938, chết năm 2020 (có giấy chứng tử).
Vợ là bà Lương Thị H5, sinh năm 1958.
Ông P và bà H5 có 04 người con chung gồm:
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1980.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1989.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984.
Ngoài vợ và con nêu trên, ông P không có vợ con nào khác, kể cả con nuôi.
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng các thửa số 280, 310, 9, 22, 23, 24, 61, 62, 64, tờ bản đồ số 34 tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, các ông bà không rõ. Bà H5, bà N, bà T3, bà H4, ông T2 không có công sức đóng góp đối với các thửa đất này. Sau khi ông D, bà R chết thì do ai trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất thì bà H5, bà N, bà T3, bà H4, ông T2 không rõ.
Nay, đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; bà H5, bà N, bà T3, bà H4, ông T2 không có ý kiến. Các ông bà không liên quan gì trong vụ án này. Trong trường hợp các thửa đất này được chia theo quy định pháp luật thì bà H5, bà N, bà T3, bà H4, ông T2 từ chối nhận phần được chia.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thị xã B là ông Trịnh Phục M trình bày:
Qua rà soát hồ sơ từ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B cho thấy thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34, được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN 001176 QSDĐ/1399/QĐ-UB. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên chưa cập nhật quyền sở hữu nhà ở trên đất nên nhà tình nghĩa không thuộc trường hợp được chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế.
Căn cứ Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định điều kiện tách thửa, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương, căn cứ Công văn 136/CV-HĐTV ngày 26/7/2023 của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, Hội đồng tư vấn về việc giải quyết nhu cầu tách thửa đất thừa kế thông qua Hội đồng tư vấn, nhận thấy trường hợp chia thừa kế đối với phần đất thuộc thửa đất số 280 có căn nhà tình nghĩa gắn liền thì phải phù hợp với các quy định nêu trên.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn bà Trần Thị H1 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.
- Bà H được quyền quản lý, sử dụng:
- Phần đất (ký hiệu F) có diện tích 2361m² (trong đó: 60m² đất ODT; 354,9m² đất HLATĐB) và một nhà tình nghĩa diện tích 119,6m² (ký hiệu nhà A) cùng toàn bộ tài sản, công trình bà H xây dựng trên đất (một nhà tắm diện tích 4,75m², một chuồng heo diện tích 36,75m², một bàn thiên, hàng rào trụ bê tông và toàn bộ cây trồng, tài sản khác trên đất) thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất (ký hiệu III) có diện tích 682,9m² (trong đó: 70.7m² đất HLATĐB) thuộc thửa đất số 310, tờ bản đồ số 34;
Tổng giá trị tài sản bà H được nhận là 15.873.840.000 đồng, vượt quá kỷ phần được nhận là 221.159.444 đồng
- Bà H1 được quyền quản lý, sử dụng:
- Phần đất (ký hiệu B) có diện tích 587,4m² (trong đó: 120m² đất HLATĐB) thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất (ký hiệu I) có diện tích 602,2m² (trong đó: 60,9m² đất HLATĐB) thuộc thửa đất số 310, tờ bản đồ số 34;
Tổng giá trị tài sản bà H1 được nhận là 5.519.060.000 đồng, vượt quá kỷ phần được nhận là 400.915.833 đồng.
- Bà H3 được quyền quản lý, sử dụng:
- Phần đất (ký hiệu C) có diện tích 2072,3m² (trong đó: 60m² đất ODT; 224m² đất HLATĐB) và một nhà cấp 4 diện tích 110,7m² (ký hiệu nhà C), chuồng gà diện tích 25,52m² (ký hiệu chuồng gà 2), chuồng gà diện tích 25,52m² (ký hiệu chuồng gà 3) cùng toàn bộ tài sản khác gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất (ký hiệu II) có diện tích 712,9m² (trong đó: 73m² đất HLATĐB) thuộc thửa đất số 310, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất thuộc các thửa đất số 9 (có diện tích 672,5m²), thửa đất số 22 (có diện tích 1340m²), thửa đất số 61 (có diện tích 711m²); tờ bản đồ số 34.
Tổng giá trị tài sản bà H3 được nhận là 15.624.840.000 đồng, ít hơn kỷ phần được nhận là 27.840.556 đồng.
- Bà H2 được quyền quản lý, sử dụng:
- Phần đất (ký hiệu A) có diện tích 1352,6m² (trong đó: 580,5m² đất HLATĐB) cùng toàn bộ cây trồng gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất (ký hiệu IV) có diện tích 438,8m² (trong đó: 43,7m² đất HLATĐB) thuộc thửa đất số 310, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất thuộc các thửa đất số 62 (có diện tích 1073,4m²), thửa đất số 64 (có diện tích 1447,9m²); tờ bản đồ số 34.
Tổng giá trị tài sản bà H2 được nhận là 10.367.390.000 đồng, ít hơn kỷ phần được nhận là 167.146.389 đồng.
- Bà C được quyền quản lý, sử dụng:
- Phần đất (ký hiệu D) có diện tích 638,4m² (trong đó: 94,1m² đất HLATĐB) cùng toàn bộ cây trồng gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34;
- Phần đất thuộc các thửa đất số 23 (có diện tích 1664m²), thửa đất số 24 (có diện tích 1538m²); tờ bản đồ số 34.
Tổng giá trị tài sản bà C được nhận là 5.112.200.000 đồng, ít hơn kỷ phần được nhận là 5.944.167 đồng.
- Ông L được quyền quản lý, sử dụng phần đất (ký hiệu E) có diện tích 842m² (trong đó: 44m² đất ODT; 123,9m² đất HLATĐB), một nhà cấp 4 do ông L xây dựng diện tích 99,1m² (ký hiệu nhà B) cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất.
Tổng giá trị tài sản ông L được nhận là 4.697.000.000 đồng, ít hơn kỷ phần được nhận là 421.144.167 đồng.
* Về thanh toán giá trị chênh lệch:
- Bà H1 có trách nhiệm bồi hoàn lại cho ông L số tiền 400.915.833 đồng.
- Bà H có trách nhiệm hoàn lại cho ông L số tiền 20.228.333 đồng; bà Cơ số tiền 5.944.167 đồng; bà H3 số tiền 27.840.556 đồng; bà H2 số tiền 167.146.389 đồng.
- Bà H, bà H1, bà H2, bà H3, bà C, ông L được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 113,9m² (ký hiệu G, trong đó có 12m² đất mộ, 36m² ODT, 25m² HLBVDB)
Kiến nghị UBND thành phố B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN 01176 QSDĐ/1399/QĐ-UB ngày 10/12/1999 do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Trần Văn D .
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được quản lý, sử dụng. (có bản vẽ kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2024 bị đơn bà Trần Thị H1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, không đồng ý với nhận định và cách phân chia của Tòa án cấp sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bà H1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào trình bày tại đơn kháng cáo và các bản tự khai có dấu vân tay của bà H1 trong hồ sơ đề xem xét kháng cáo của bà H1.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Văn L, bà Trần Thị H3, bà Trần Thị C, bà Lê Thị Bích T1, bà Nguyễn Thị H4, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị T3, bà Lương Thị H5, bà Nguyễn Thị Cẩm N, Ủy ban nhân dân thành phố B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hàng thừa kế: các đương sự thống nhất xác định cụ Trần Văn D, (sinh năm 1935, chết năm 2010), cụ Châu Thị L2 (sinh năm 1938, chết năm 1973), cụ Nguyễn Thị R (sinh năm 1938, chết năm 2020).
Cụ D và cụ L2 có 4 người con chung là bà Trần Thị H1, ông Châu Văn L, bà Trần Thị C, ông Trần Văn T5 (đã chết trước năm 1975, không vợ và con).
Cụ D và cụ R có 02 người con chung là bà Trần Thị H3 và bà Trần Thị H7.
Ngoài ra cụ R còn có 2 người con riêng là bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn P (ông P chết năm 2018, có vợ là bà Lương Thị H5 và có các con là bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị Cẩm N, bà Nguyễn Thị T3 và ông Nguyễn Văn T2). Ngoài ra cụ D, cụ L2, cụ R không có người con nào khác.
Sự thừa nhận của các đương sự về hàng thừa kế là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về di sản: các đương sự không có sự thống nhất, cụ thể:
[3.1] Nguyên đơn bà H7 xác định thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 diện tích 8.446,8m² là nhận thừa kế từ cha mẹ của ông D, còn thửa đất 310, tờ bản đồ số 34 diện tích 2.436,8m² và thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34 diện tích 7.967,6m² do ông D và bà R khai phá năm 1976.
[3.2] Bị đơn không thống nhất với nguyên đơn về nguồn gốc các thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 diện tích 8.446,8m² là tài sản chung của cụ L2 và cụ D nhận chuyển nhượng của nhiều người từ năm 1991, còn thửa đất 310, tờ bản đồ số 34 diện tích 2,436,8m² và thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34 diện tích 7.967,6m² là do cụ L3 cha của cụ D để lại phần đất này do cụ L2 và cụ L3 khai phá khi cụ L2 chết, cụ L3 canh tác khi cụ L3 chết để lại cụ D.
[4] Xét, theo hồ sơ trích lục tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B xác định thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 diện tích 8.446,8m² là cha mẹ để lại từ năm 1976 (thời điểm này cụ L2 đã chết), thửa đất số 310, tờ bản đồ số 34 diện tích 2.436,8m² và thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34 diện tích 7.967,6m² do ông D và bà R khai phá năm 1976 và được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 cho hộ ông Trần Văn D là 18.747m². Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Trần Văn D có 6 người gồm ông D, bà R, ông L, bà H2, bà H7, bà H3. Do đó, có căn cứ xác định các thửa đất các thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 diện tích 8.446,8m² và thửa đất số 310 và thửa 280 tờ bản đồ số 34 đây là tài sản chung của cụ D và cụ R được nhận và tạo lập sau khi về sống chung với nhau từ năm 1976. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 là tài sản riêng của cụ R là không phù hợp. Tuy nhiên, việc xác định như trên, ảnh hưởng quyền lợi của hàng thừa kế của cụ R gồm bà H7, bà H3, bà H2 và các thừa kế của ông P. Tuy nhiên, các thừa kế của bà R không kháng cáo và thống nhất thừa nhận tài sản trên là tài sản riêng của cụ D, là có lợi cho các thừa kế của cụ D và cụ L2. Bà H1 kháng cáo, ngoài lời trình bày không cung cấp được chứng cứ chứng minh đất là của cụ L2 nên kháng cáo của bà H1 cho rằng các thửa đất số 9, 23, 24, 22, 61, 64, 62 tờ bản đồ số 34 diện tích 8.446,8m², thửa đất 310, tờ bản đồ số 34 diện tích 2.436,8m² và thửa đất số 280, tờ bản đồ số 34 diện tích 7.967,6m² là tài sản chung của cụ L2 và cụ D là không có căn cứ.
[5] Về cách phân chia di sản: Tòa án cấp sơ thẩm phân chia di sản bằng hiện vật cho các thừa kế, việc phân chia hiện vật trên đảm bảo điều kiện tách thửa theo Quyết định 12/2023/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh B quy định về điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Công văn số 136/CV-HĐTV ngày 26/7/2023 của Hội đồng tư vấn U (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Đối với giá trị chênh lệch giữa kỷ phần được chia và quyền sử dụng đất được giao quản lý, sử dụng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H7, bà H1 thanh toán giá trị chênh lệch là phù hợp.
Đối với thửa 280, theo Công văn số 108/TTPTQÐ-DS ngày 11/5/2023 của Trung tâm P2 (nay là thành phố ) thể hiện thông tin: dự kiến thu hồi diện tích 1.151,7m² thuộc một phần thửa đất số 280. Tuy nhiên, đến nay, Ủy ban nhân dân thành phố B chưa ban hành quyết định thu hồi đối với thửa đất trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chia thừa kế theo quy định pháp luật dựa theo kết quả đo đạc thực tế thửa 280 tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 13/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) B, là có căn cứ.
[6] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bà H1 là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị H1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị H1 được miễn nộp án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 136/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 136/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
