Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày: 20- 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đ và bà Vũ Thị Th .
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.
- Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương D- Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/11/2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2024/TLST- HS ngày 31 t háng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Tuấn A, sinh năm 1989; Sinh trú quán: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đăng K, sinh năm 1966 và con bà Trương Thị V, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Tuấn A, sinh năm: 2003.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt

* Người làm chứng:

  1. Anh Phan Trung S, sinh năm 1999.
  2. Anh Trần Đình H, sinh năm 1991.
  3. Ông Trương Đăng N, sinh năm 1965.

Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ ngày 28/8/2024 tại đường T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã phát hiện, bắt quả tang Trần Tuấn A, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên gọi là Tuấn A (Y), đang có hành vi bán trái phép cho Trần Tuấn A, sinh năm 2003 ở tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên gọi là Tuấn A (Mỹ Hào) 01 gói ma tuý đá. Quá trình kiểm tra thu giữ của Tuấn A (Mỹ Hào) 01 túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu xanh kích thước (2,5x1,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1) và 01 Iphone 6 màu xám bên trong lắp 01 sim V1. Tuấn A (M) khai nhận túi ma túy đá vừa mua được của Tuấn A (Y) với giá 500.000 đồng

Thu giữ của Tuấn A (Y) trên tay trái 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen bên trong lắp sim V1; tại túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người số tiền 500.000 đồng; tại túi quần phía sau bên phải 300.000 đồng. Tuấn A (Y) khai số tiền 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho Tuấn A (M) và số tiền 300.000 đồng (là tiền bán ma túy cho Phan Trung S, sinh năm 1999 ở cùng thôn với Tuấn A (Y) vào buổi sáng cùng ngày.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/8/2024, Trần Tuấn A (M), đang đi chơi tại khu vực ngã ba M thuộc thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì gặp bạn là Phan Trung S. Tại đây, cả hai đứng nói chuyện thì S rủ Tuấn A (M) đến nhà bạn của S là Tuấn A (Y) chơi nhưng S không nói rõ mục đích đến nhà Tuấn A (Y) để mua ma túy cho Tuấn A (M) biết. Khi đến nơi thì gặp Tuấn A (Y) vừa đi ra ngõ. Tại đây, S hỏi Tuấn A (Y) “anh còn đồ không bán cho em một cái”, hiểu ý của S hỏi mua ma túy đá, Tuấn A (Y) trả lời “có”, đồng thời lấy từ trong túi quần phía trước bên phải của mình đưa cho S 1 túi nilon màu trắng, viền màu xanh (kích thước 2,5x1,5)cm bên trong chứa ma túy đá (niêm phong ký hiệu M1). S trả cho Tuấn A (Y) 300.000 đồng, cất ma túy trong người rồi cùng với Tuấn A (M) đi về quán nét tiếp tục chơi game. Đến gần 11 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Tuấn A (M) gọi điện từ điện thoại Iphone 6 màu xám lắp sim số 037.205.6xxx đến điện thoại Nokia 105 của Tuấn A (Y) lắp sim số 033.411.9xxx để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, Tuấn A (Y) đồng ý bán. Cả hai hẹn gặp giao dịch tại đầu đường rẽ vào nhà Tuấn A (Y). Tại điểm hẹn Tuấn A (Y) cầm 01 túi ma túy đá cất giấu vào túi quần bên trái phía trước để gặp Tuấn A (M), tại đây Tuấn A (M) trả 500.000 đồng cho Tuấn A (Y) và nhận túi ma túy cất vào túi áo ngực phía trước bên trái. Tuấn A (Y) nhận tiền cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc tên người thì bị Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang. Nguồn gốc số ma túy, Tuấn A (Y) khai mua của Trần Đình H, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã T, huyện Y.

Đối với Phan Trung S, sau khi mua được ma túy của Tuấn A (Y), đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày S mang đến khu vực cánh đồng phía sau sân bóng Công Ty T2 bỏ coóng và bật lửa chuẩn bị từ trước để một mình sử dụng và vứt bỏ các dụng cụ sử dụng ma túy ở khu vực thôn T, xã T, kết quả chỉ dẫn, rà soát, không thu giữ được vật chứng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Tuấn A (Y) thu giữ tại tủ đề giày bên phải cửa ra vào, ở giá cuối cùng có 1 hộp nhựa kích thước (05x08)cm chứa 17 túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu xanh đều có kích thước (2,5x1,5)cm bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu X1). Tuấn A khai cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Tuấn A (M), nơi ở của Phan Trung S và nơi ở của Trần Đình H không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Trần Tuấn A (Y); Trần Tuấn A (M) và Phan Trung S đều dương tính với ma túy Methamphetamine.

Kết luận giám định số 578/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong ký hiệu M1 có khối lượng 0,014g là ma túy loại Methamphetamine;

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu X1, có tổng khối lượng là 4,988 gam ma túy loại Methamphetamine và Ketamine.

Về vật chứng: Mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong ghi số 578/KL-KTHS(MT); Ký hiệu H-1 bên trong có 0,011g ma tuý loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1, các vỏ túi nilon màu trắng viền xanh, 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; Ký hiệu H-2 bên trong có 4,960 gam ma tuý loại Methamphetamine, Ketamine trong niêm phong ký hiệu X1; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen lắp sim V1; 01 điện thoại Iphone 6S màu xám lắp sim V1; 01 hộp nhựa màu trắng Hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Y; số tiền 800.000 đồng hiện đang gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Y để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Trần Đình H. Kết quả điều tra xác định khi mua bán không có ai chứng kiến, Tuấn A (Y) trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt, không có phương tiện liên lạc gì khi mua ma tuý, Trần Đình H không thừa nhận việc bán ma tuý cho bị cáo, do vậy không có căn cứ để xử lý đối với Trần Đình H.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Trung S, ngày 25/10/2024 Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Tuấn A, sinh năm 2003, ngày 25/10/2024 Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Tuấn A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 138/CT-VKS-YM ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Trần Tuấn Anh về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn A từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ còn đề nghị về án phí, đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.

- Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt cho bị cáo ở mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra họ đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng; biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi liên quan, những người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K2 - Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 11 giờ ngày 28/8/2024, tại đường T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Trần Tuấn A, sinh năm 1989 có hành vi bán trái phép 0,014g ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng cho Trần Tuấn A, sinh năm 2003 và buổi sáng ngày 28/8/2024 bị cáo Trần Tuấn A sinh năm 1989 bán trái phép 300.000 đồng ma túy Methamphetamine cho Phan Trung S. Thu giữ tại nơi ở của bị cáo Trần Tuấn A, sinh năm 1989 số lượng 4,988g ma túy loại Methamphetamine và K1, bị cáo Tuấn A cất giấu nhằm mục đích bán cho những người nghiện khác để kiếm lời. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng trong vụ án:

  • - Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong ghi số 578/KL-KTHS(MT); Ký hiệu H-1 bên trong có 0,011g ma tuý loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1, các vỏ túi nilon màu trắng viền xanh, 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; Ký hiệu H-2 bên trong có 4,960 gam ma tuý loại Methamphetamine, Ketamine trong niêm phong ký hiệu X1; 01 hộp nhựa màu trắng là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy
  • - Đối với số tiền 800.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Trần Tuấn A sinh năm 2003 và Phan Trung S là tiền phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại Nokia 105 màu đen lắp sim V1 thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại Iphone 6S màu xám lắp sim Viettel thu giữ của Trần Tuấn A, sinh năm 2003 liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

[7] Đối với nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Trần Đình H. Kết quả điều tra xác định khi mua bán không có ai chứng kiến, bị cáo trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt, không có phương tiện liên lạc gì khi mua ma tuý. Trần Đình H không thừa nhận việc bán ma tuý cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý đối với Trần Đình H.

[8] - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Trung S, ngày 25/10/2024 Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Tuấn A, sinh năm 2003, ngày 25/10/2024 Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn A 08 (T) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Tuấn A.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy mẫu hoàn lại được niêm phong trong phong bì ghi số 578/KL-KTHS(MT); Ký hiệu H-1 bên trong có 0,011g ma tuý loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1, các vỏ túi nilon màu trắng viền xanh, 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; Ký hiệu H-2 bên trong có 4,960 gam ma tuý loại Methamphetamine, Ketamine trong niêm phong ký hiệu X1; 01 hộp nhựa màu trắng.
  • - Tịch thu 800.000đồng tiền bán ma túy của bị cáo Trần Tuấn A sung quỹ Nhà nước.
  • - Tịch thu 01 điện thoại Nokia 105 màu đen lắp sim V1 của bị cáo Trần Tuấn A phát mại sung quỹ Nhà nước.
  • - Tịch thu 01 điện thoại Iphone 6S màu xám lắp sim Viettel thu giữ của Trần Tuấn A, sinh năm 2003 phát mại sung quỹ Nhà nước.
  • (Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ và Công an huyện Y và Giấy ủy nhiệm chi ngày 19/11/2024).

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tuấn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án theo quy định.

N

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn A phạm Tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger