Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày: 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đức và ông Nguyễn Văn Đời.

Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đào Văn Thành

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 01/01/1975Tại Quảng Nam. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không rõ; con bà: Đào Thị B (đã chết); vợ tên: Bùi Thị V, sinh năm 1976; có 01 con chung sinh năm 2007.

Tiền án: Ngày 14/5/2024, bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2024 tại nhà tạm giữ Công an quận S, TP .. Có mặt.

Bị hại: Chị Mai Thị Thu T, sinh năm 1988; địa chỉ: số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ ngày 22/8/2024, Đào Văn T1 đi bộ tập thể dục quanh công trình xây dựng tại đường N, phường A, quận S, TP .. Khi đi ngang qua nhà trọ cho thuê tại địa chỉ số A đường N, phường A, quận S, TP ., T1 nhìn qua cửa sổ thì thấy 02 chiếc điện thoại di động trong đó 01 chiếc điện thoại hiệu oppo Reno 10 màu xanh và 01 chiếc điện thoại Redmi màu đen của chị Mai Thị Thu T để trên giường xếp, không có ai trông coi. Lúc này, T1 nảy sinh ý định trộm cắp nên đã đi vào nhà trọ lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên cất vào túi nilong. Sau đó, T1 đi bộ vài trăm mét đến một bãi đất trống trên đường L, phường A, quận S, TP . và cất giấu 02 điện thoại vừa trộm được ở bãi đất trống và đi về.

Đến ngày 25/8/2024, chị Mai Thị Thu T đến Công an phường A, quận S, TP . trình báo sự việc.

Do có dấu hiệu nghi vấn, nên ngày 25/8/2024, Công an phường A, quận S, TP triệu tập Đào Văn T1 về trụ sở để làm việc. Tại đây, T1 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên và tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp cho Công an phường A.

* Vật chứng thu giữ:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen do T1 giao nộp, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận S đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Mai Thị Thu T.

Bản kết luận định giá số: 48 ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá TSTTTHS quận S xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh có giá trị 4.600.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có giá trị 3.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản do Đào Văn T1 trộm cắp là: 7.800.000 đồng.

* Bồi thường dân sự:

Bị hại Mai Thị Thu T đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, Đào Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

* Lời khai của bị hại đã được công bố tại phiên tòa có nội dung phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Cáo trạng số 129/CT- VKS -ST ngày 04/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đào Văn T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Văn T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù và căn cứ khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp với bản án số 47/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP .. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam (26/8/2024).

Về dân sự: Đã giải quyết tại giai đoạn điều tra.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ ngày 22/8/2024, tại nhà số A đường N, phường A, quận S, TP ., Đào Văn T1 đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh có giá trị 4.600.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có giá trị 3.200.000 đồng của chị Mai Thị Thu T. Tổng giá trị tài sản do Đào Văn T1 trộm cắp là: 7.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đào Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số: 129/CT- VKS -ST ngày 04/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng với ý thức xem thường pháp luật, lười lao động, ham hưởng thụ nên lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo đã trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh có giá trị 4.600.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có giá trị 3.200.000 đồng của chị Mai Thị Thu T. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là: 7.800.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, hành vi này phải được xử lý với mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 14/5/2025, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . xử phạt 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo đang trong thời gian thử thách án treo nhưng lại tiếp tục phạm tội và phạm tội lần này thuộc trường hợp "Tái phạm" được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Điều này chứng tỏ bị cáo đã bất chấp pháp luật nếu không có biện pháp cải tạo, giáo dục tốt thì dễ trở thành loại tội phạm chuyên nghiệp, gây nguy hiểm cho xã hội. Với nhân thân của bị cáo như vậy thì cần phải tiếp tục cách ly ra khỏi sinh hoạt đời sống xã hội một thời gian để có biện pháp quản lý giáo dục cho bị cáo tiến bộ như quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa là thỏa đáng. Nên ngoài chấp hành mức án về tội "Trộm cắp tài sản" thì bị cáo còn phải chấp hành 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo chuyển thành 01 (Một) năm tù giam.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong khi lượng hình.

[5]. HĐXX căn cứ Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án (bản án số 47/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . và bản án ngày hôm nay) là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

[7] Án phí HS-ST: Bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

[8] Các đề nghị của đại diện viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đào Văn T1 01 (Một) năm tù. Tổng hợp với 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo chuyển thành 01 (Một) năm tù giam của bản án số 47/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP .. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (26/8/2024).

2/ Án phí HS-ST: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Án xử công khai, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Công an quân Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu hồ sơ;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Đông Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 19/11/2024, Tòa án nhân dân quận S tuyên xử phạt bị cáo Đào Văn T về hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger