|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 136/2024/HS-ST
Ngày 07-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Quang Điện.
- Ông Nguyễn Văn Kháng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Đạt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Lò Văn U, sinh năm 1985.
Nơi sinh và cư trú: Bản Phương Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn C và bà Lò Thị B vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 26/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Uốn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn U, là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroine. Hiện đang thuê trọ ở thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
1
U khai: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/07/2024, U đi bộ một mình từ phòng trọ thuộc thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến khu vực bãi đất trống gần khu S thuộc thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên rồi mua 03 gói ma túy (loại H) với giá 300.000 đồng của một người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, U mang ra khu vực cổng khu sinh thái C rồi ngồi chia nhỏ ma túy thành 06 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ để sử dụng dần. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, U đang đi bộ trên đường Đ thuộc thôn M, thị trấn N thì bị Công an huyện V phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Tại lòng bàn tay phải của Uốn 01 gói nilon màu trắng được hàn kín bên trong có 05 gói giấy màu trắng đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột (được niêm phong ký hiệu M1) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng (bị vỡ màn hình) số IMEI: 013032007908062 lắp số thuê bao 0986955637; Tại túi áo ngực phía trước bên trái của U 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất màu trắng dạng cục và bột (được niêm phong ký hiệu M2), 01 mảnh giấy bạc, kích thước (08x02)cm, có bám dính chất màu nâu (được niêm phong ký hiệu M3), 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; Tại túi quần phía trước bên trái của U 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn U; Tại túi quần sau bên phải của U có số tiền 1.700.000 đồng.
Ngày 01/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn U tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Tại thông báo giám định sơ bộ số 505 ngày 01/7/2024 và Kết luận giám định số 505 ngày 04/07/2024, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định có tổng khối lượng là 0,119g là ma túy, loại Heroine; Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định có tổng khối lượng là 0,024g là ma túy, loại Heroine; Tìm thấy dấu vết ma túy, loại Heroine trên 01 mảnh giấy bạc trong niêm phong ghi ký hiệu M3. H lại mẫu vật trong niêm phong ghi số 505/KL-KTHS (MT), bên trong có: 0,110g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M1; 0,020g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M2; 01 mảnh giấy bạc trong niêm phong ghi ký hiệu M3; mảnh nilon, các mảnh giấy gói ma tuý và 03 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Đối với vật chứng của vụ án là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng (bị vỡ màn hình) số IMEI: 013032007908062 lắp số thuê bao 0986955637, 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn U là của U không sử dụng vào mục đích phạm tội; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là của U để sử dụng trái phép chất ma túy và 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 505/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh H, Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã nhập kho vật chứng bảo quản để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 1.700.000 đồng là số tiền của U, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã nhập số tiền này vào tài
2
khoản tạm giữ của Công an huyện V tại Kho bạc Nhà nước huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ U khai đã bán ma túy cho Uốn ngày 01/7/2024 tại khu vực bãi đất trống gần khu S thuộc thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã xác minh nhưng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra xác minh làm rõ giải quyết sau.
Lò Văn U đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, U khai số ma túy bị thu giữ trên mục đích để sử dụng. Lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 130/CT-VKS, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà; Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Người bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt, miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn U phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn U từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời gian tù tính từ ngày 01/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là của U để sử dụng trái phép chất ma túy và 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 505/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh H.
Trả lại bị cáo U 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng (bị vỡ màn hình) số IMEI: 013032007908062 lắp số thuê bao 0986955637, 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn U, số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bẩy trăm nghìn đồng).
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho bị cáo đúng pháp luật; việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu
3
nại gì. Hội đồng xét xử xác định việc điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 01/7/2024 tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Lò Văn U thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,143g ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng, thì bị Công an huyện V phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép ma túy như nêu trên của Lò Văn U đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trong tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã nghiện ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nguy cơ lây lan các bệnh nguy hiểm cũng xuất phát từ việc sử dụng trái phép ma túy. Bị cáo đã bị kết án, nhưng vẫn phạm tội chứng tỏ ý thức coi thường pháp luật. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra. Bị cáo đã được xóa án tích, nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xong cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... ” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo làm nghề tự do, có thu nhập nhưng chỉ đủ chi tiêu sinh hoạt, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4
[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là của U để sử dụng trái phép chất ma túy và 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 505/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong là ma túy, đây là các vật chứng liên quan đến phạm tội, nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng (bị vỡ màn hình) số IMEI: 013032007908062 lắp số thuê bao 0986955637, 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn U, số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bẩy trăm nghìn đồng), không liên quan đến tội phạm, nên sẽ trả lại bị cáo.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, sau này có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn U phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn U 02 năm tù, thời gian tù tính từ ngày 01/7/2024.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là của U để sử dụng trái phép chất ma túy và 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 505/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh H.
Trả lại bị cáo U 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng (bị vỡ màn hình) số IMEI: 013032007908062 lắp số thuê bao 0986955637, 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn U, số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bẩy trăm nghìn đồng).
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn U.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Mười |
5
6
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Uốn
