|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2024/HS-ST Ngày 07-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt
Ông Tống Đăng Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST - HS, ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lôi Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 10 tháng 7 năm 2006 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Lôi Văn C, sinh năm 1985 và con bà: Hoàng Thị P, sinh năm 1986. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến ngày 10/10/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên toà
- Họ và tên: Đinh Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 17 tháng 02 năm 2007 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12;Con ông: Đinh Văn P1, sinh năm 1977 và con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên toà
Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người bào chữa cho bị cáo D: Ông Thân Văn L – Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang
Bị hại: Anh Lưu Quang D1, sinh ngày 08/9/2007 (vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Mới, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện bị hại: Ông Lưu Quang N, sinh năm 1964. (vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Mới, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Thanh T, sinh năm 1997 (văng mặt);
- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2005 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1986 (có mặt)
Nơi cư trú: TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Phố L, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người tham gia tố tụng khác:
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang– Bí thư Đoàn xã Đ1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, Lôi Văn K, sinh ngày 10/7/2006, trú tại thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Đinh Văn D, sinh ngày 17/02/2007, trú tại thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng nhau chơi game tại quán game ở khu vực đường mới, thị trấn C, huyện L. Quá trình chơi game, D có được anh Lưu Quang D1, sinh ngày 08/9/2007, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L là bạn D nhắn tin rủ đi chơi bi-a. Do bản thân không có xe, nên D đã bảo anh D1 xuống đón. Sau đó, D kể với K là chuẩn bị đi chơi bi-a với D1 và đã bảo D1 xuống đón; K có hỏi D xem anh D1 có xe không. Mặc dù không phải bạn của anh D1, nhưng do biết D1 có xe máy điện nên K nói với D là cho K đi đánh bi-a cùng rồi K và D bàn bạc, thống nhất với nhau là D hỏi mượn xe máy điện của anh D1 để K mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. Một lúc sau, anh D1 điều khiển xe máy điện, nhãn hiệu X-Men, màu đỏ đen, số khung: RPEYXENPELA 000086, số máy: JYX60V1400W000086, gắn biển kiểm soát 98MĐ2-045.69 đến đón D và K, anh D1 chở K và D ngồi ở sau rồi cả ba cùng đi đến quán B ở tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Khi đến khu vực vỉa hè ở trước cửa quán B, D và K cùng nhau hỏi mượn xe máy điện của anh D1 và nói dối là “cho K mượn xe để đi đón bạn ở quán game lên chơi cùng”, thì anh D1 đồng ý và cho K mượn xe.
Sau khi mượn được xe máy điện của anh D1, Lôi Văn K một mình điều khiển chiếc xe đi đến khu nhà trọ trong chợ C1, thị trấn C để tìm gặp anh Phạm Thanh T, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L để cầm cố xe cho anh T, nhưng anh T không có nhà. Tại đây, K gặp anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã T, huyện L là bạn của anh T. K nói chuyện với anh V về việc muốn cầm cố chiếc xe máy điện cho anh T thì anh V dùng điện thoại của mình gọi cho anh T rồi cho K nói chuyện điện thoại với với anh T. K bảo anh T là muốn cắm chiếc xe máy điện mình đi đến thì anh T đồng ý và bảo anh V nhận giúp, sau đó anh T chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản của mình qua tài khoản của anh V, rồi anh V chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1 số 1037262712 mang tên Đinh Văn D do K cung cấp (Số tài khoản này là của Đinh Văn D mở, sau đó D cho K mượn tài khoản để sử dụng và nạp tiền vào game). Sau khi nhận tiền, K đi chơi game tiếp và sử dụng hết số tiền 2.000.000 đồng cho mục đích chơi game (K sử dụng tài khoản ngân hàng của D và nạp trực tiếp vào game).
Đến khoảng 18 giờ ngày 18/6/2024, anh Lưu Quang D1 không thấy Lôi Văn K mang xe về trả mình nên đã hỏi Đinh Văn D thì được biết là K đã mang xe của mình đi cầm cố. Ngày 26/6/2024, anh D1 đã làm đơn trình báo sự việc đến cơ quan công an đề nghị giải quyết vụ việc.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện L tiến hành thu giữ 01 (một) chiếc xe máy điện, nhãn hiệu X-Men, màu đỏ đen, số khung: RPEYXENPELA 000086, số máy: JYX60V1400W000086, gắn BKS 98MĐ2-045.69 tại khu nhà trọ của anh Phạm Thanh T ở địa chỉ nêu trên.
Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định giá tài sản xác định giá trị chiếc xe máy điện nói trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 67 ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L xác định giá trị của chiếc xe máy điện nêu trên tại thời diểm bị chiếm đoạt là 4.200.000 đồng.
Ngày 08/8/2024, Lôi Văn K bị bắt tạm giam. Qua lời khai của K, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, làm việc với Đinh Văn D, D đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của D phù hợp với lời khai của Lôi Văn K.
Đối với Phạm Thanh T là người đã nhận cầm cố chiếc xe máy điện của K, Nguyễn Văn V là người đã giúp T nhận xe từ K, quá trình điều tra xác định cả T và V đều không biết chiếc xe là do K phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) chiếc xe máy điện, nhãn hiệu X-Men, màu đỏ đen, số khung: RPEYXENPELA 000086, số máy: JYX60V1400W000086, cũ, đã qua sử dụng đã thu giữ, ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Lưu Quang D1.
Đối với 01 (một) chiếc Biển kiểm soát số 98MĐ2-045.69 gắn trên chiếc xe máy điện nêu trên khi thu giữ, quá trình điều tra, xác định đây không phải biển kiểm soát được cấp cho chiếc xe máy điện nêu trên, mà do anh Lưu Quang D1 nhặt được và tự gắn lên xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu, xác định biển kiểm soát trên là của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979, trú tại thôn A, xã M, huyện L nhưng anh T1 không có yêu cầu xử lý đối với biển kiểm soát này, cần chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lưu Quang D1 không yêu cầu các bị cáo Lôi Văn K và Đinh Văn D phải bồi thường gì. Ngày 13/9/2024 K đã tác động gia đình trả số tiền tiền 2.000.000 đồng cho anh Phạm Thanh T, anh T không yêu cầu đề nghị gì khác.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Lôi Văn K, Đinh Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lôi Văn K, Đinh Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Thị P xác định số tiền chị bỏ ra bồi thường cho bị cáo K là tiền của chị P. Việc chị P trả tiền cho anh T là do bị cáo K tác động. Nay chị P không yêu cầu bị cáo K phải trả lại chị P số tiền trên.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX công bố lời khai của họ tại phiên tòa.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội các bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lôi Văn K từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lôi Văn K cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn D từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Đinh Văn D cho UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
- Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo D.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc Biển kiểm soát số 98MĐ2-045.69 lưu tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lôi Văn K, bị cáo Đinh Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án phí HSST.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo D là ông Thân Văn L có ý kiến tranh luận: Đồng tình với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng như Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đổi với bị cáo Đinh Văn D. Tuy nhiên, do trong vụ án bị cáo D chỉ tham gia với vai trò giúp sức, bị cáo D chưa được ăn chia tiền thu lời bất chính. Nên về hình phạt ông L đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 90, Điều 91, Điều100 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Văn D từ 03 tháng đến 06 tháng cải tạo không giam giữ, không áp dụng phạt bổ sung. Trường hợp nếu HĐXX không chấp nhận đề nghị trên thì đề nghị HĐXX xem xét áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS xử bị cáo Đinh Văn D từ 03 tháng – 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời gian thử thách từ 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phần tranh luận của Kiểm sát viên: Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn D, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cá D, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo D.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, việc văng mặt của người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về căn cứ xác định các bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố đã nêu. Lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực vỉa hè trước cửa quán B thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Lôi Văn K, sinh ngày 10/7/2006, trú tại thôn P, xã B, huyện L và Đinh Văn D, sinh ngày 17/02/2007, trú tại thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-Men, màu đỏ đen, số khung: RPEYXENPELA 000086, sô máy: JYX60V1400W000086 của anh Lưu Quang D1, sinh năm 2007, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L. Sau đó, Lôi Văn K một mình đem chiếc xe đến cầm cố cho anh Phạm Thanh T, sinh năm 1997, trú tại TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy số tiền 2.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân hết. Chiếc xe máy điện K và D lừa đảo chiếm đoạt trị giá là 4.200.000 đồng.
Bị cáo K và D là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, VKSND huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay các các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX thấy cần áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Bị cáo Lôi Văn K đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Do các bị cáo đều chưa thanh niên nên cần áp dụng Điều 101 BLHS khi xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. HĐXX thấy: Mặc dù hành vi của các bị cáo xâm phạm đến tài sản của người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nhưng thời điểm phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù vẫn có thể giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người chưa thành niên nên HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 174 để phạt bổ sung các bị cáo
[6] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Vì vậy việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo cần có sự phân hóa vai trò để cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo. Giữ vai trò chính trong vụ án này là bị cáo Lôi Văn K, tiếp theo là bị cáo Đinh Văn D. Bị cáo K là người chủ mưu, người thực hiện hành vi lừa đảo, trực tiếp mang tài sản đi cầm cố và chi tiêu hết số tiền cầm cố được, còn bị cáo D giữ vai trò cổ vũ, giúp sức cho bị cáo K. Do đó, bị cáo K phải chịu hình phạt cao hơn đối với bị cáo D.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn D, HĐXX thấy: Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Mức đề nghị của người bào chữa cho bị cáo D đưa ra là nhẹ và không có căn cứ chấp nhận. Do đó, HĐXX thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện L tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lưu Quang D1 không yêu cầu các bị cáo Lôi Văn K và Đinh Văn D phải bồi thường gì. Ngày 13/9/2024 K đã tác động gia đình trả số tiền tiền 2.000.000 đồng cho anh Phạm Thanh T, anh T không yêu cầu đề nghị gì khác nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc xe máy điện, nhãn hiệu X-Men, màu đỏ đen, số khung: RPEYXENPELA 000086, số máy: JYX60V1400W000086, cũ, đã qua sử dụng đã thu giữ, ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Lưu Quang D1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 01 (một) chiếc Biển kiểm soát số 98MĐ2-045.69 gắn trên chiếc xe máy điện xác định biển kiểm soát trên là của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979, trú tại thôn A, xã M, huyện L, anh T1 không có ý kiến gì về chiếc biển kiểm soát này. Hơn nữa, biển kiểm soát này hết giá trị sử dụng nên HĐXX căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Các bị cáo Lôi Văn K, Đinh Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Lôi Văn K 08 (T2) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lôi Văn K cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Đinh Văn D 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lôi Văn K cho UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc Biển kiểm soát số 98MĐ2-045.69 lưu tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Lôi Văn K, Đinh Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Công Định |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lôi Văn K phạm tội.........
