|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 136/2024/HS-ST
Ngày 29 - 10 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Xuân Thắng.
Bà Trần Thị Dinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại nhà đa năng trường Trung học cơ sở H1, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử lưu động công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 04/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN T
Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 7 năm 1995 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ C, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn N và bà Trần Thị M. Bị cáo sống chung với Nguyễn Thị Hoài T1 như vợ chồng và có 01 con chung sinh năm 2022. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ, ngày 19/6/2024, Trần Văn T đang uống nước tại một quán nước tại K, đường Q, phường L, thành phố L thì nghe thấy một số người không quen biết cũng đang ngồi uống nước ở đó nói chuyện về việc sử dụng ma túy Hồng phiến nên Trần Văn T nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng, Trần Văn T đã hỏi một người nam giới tên L ở đó “có biết ở đâu bán ma túy H phiến không”, người nam giới tên L cho Trần Văn T số điện thoại của một người nam giới tên V. Trần Văn T nhập số điện thoại gọi cho người nam giới tên V hỏi mua 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ma túy Hồng phiến. Người nam giới tên V đồng ý bán và hẹn Trần Văn T ra khu vực cổng bến số 3, thuộc xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai để giao dịch mua bán ma túy. Sau khi gọi điện thoại, Trần Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 883.00 đi từ quán nước đến điểm hẹn. Khi đi đến nơi Trần Văn T gặp người nam giới tên V. Trần Văn T lấy số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đưa cho người nam giới tên V, người nam giới tên V nhận tiền rồi đưa lại cho Trần Văn T 01 gói bên ngoài được gói bằng khẩu trang y tế màu trắng, bên trong chứa ma túy Hồng phiến, Trần Văn T cầm gói ma túy cất vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà.
Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày khi Trần Văn T đi đến cây xăng số A thuộc tổ C, phường L, thành phố L thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, trước sự có mặt của người chứng kiến Trần Văn T đã tự giác lấy từ trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói ngoài bằng khẩu tra y tế màu trắng và khai nhận là gói ma túy Hồng phiến tàng trữ để sử dụng cho bản thân, tổ công tác thu nhận mở kiểm tra thấy bên trong gói chứa 05 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt của mỗi viên đều được dập chìm chữ “WY”. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blare, biển kiểm soát 24B2 – 883.00, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, số Imei: 356733111078214, gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 19/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Phòng K Công an tỉnh L xác định: 05 viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt của mỗi viên đều được dập chìm ký tự “WY” thu giữ của Trần Văn T ngày 19/6/2024. Có khối lượng 0,513 gam; trích 0,047 gam để giám định, hoàn lại Cơ quan trưng cầu 0,466 gam.
Tại bản kết luận giám định số 254/KL-GĐMT ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,513 (không phẩy năm trăm mười ba) gam các viên nén hình tròn có đặc điểm giống nhau, trên một mặt của mỗi viên đều được dập chìm ký tự “WY” thu giữ của Trần Văn T ngày 19/6/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi đến giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.
Cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 0,466 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau trích mẫu, tịch thu 01 chiếc điện thoại Iphone là phương tiện phạm tội của bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 19/6/2024, tại cây xăng số A thuộc tổ C, phường L, thành phố L, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,513 gam Methamphetamin để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ....
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, có ông ngoại là ông Trần Hồng L1 được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng Hai, có cậu ruột của của bị cáo là ông Trần Văn M1 là liệt sĩ được Tổ quốc ghi công; Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, mặc dù biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L, vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,466 gam Methamphetamine còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc khi mua ma tuý cần tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 24B2 – 883.00 đã qua sử dụng tạm giữ của Trần Văn T quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bà Trần Thị M, là mẹ đẻ của Trần Văn T, ngày 19/6/2024 Trần Văn T tự ý sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy bà M không biết và không tham gia cùng nên ngày 14/9/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Trần Thị M là đúng quy định pháp luật.
Đối với người nam giới tên V đã bán ma tuý cho bị can Trần Văn T ngày 19/6/2024. Quá trình điều tra và tại phiên toà không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của đối tượng này nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/6/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,466 gam Methamphetamine còn lại sau giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn T ngày 19/6/2024 tại tổ C, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.
Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 356733111078214, gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng đã thu giữ của Trần Văn T để nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
