|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 136/2024/HS-ST
Ngày 22-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Trúc Hoa
Ông Lã Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Trung C, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: V, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trung Đ và bà Phạm Thị H; chưa vợ con; Tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 09/2021/QĐ-TA ngày 26/8/2021 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Trung C trong thời gian 18 tháng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/4/2024, chuyển tạm giam ngày 26/4/2024; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 18 giờ ngày 20/4/2024 Phạm Trung C mượn xe mô tô (không nhớ rõ Biển kiểm soát) của một người bạn quen biết ngoài xã hội (không rõ tên tuổi, địa chỉ), rồi C một mình đi xe mô tô đến khu vực xã T, huyện A, Hải Phòng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 3300.000 đồng được 01 túi nilon chứa ma túy đá (kích thước 02x02cm). C cất giấu túi nilon chứa ma tuý trên vào trong túi quần bên trái phía trước, rồi đi về trả xe mô tô cho người bạn trên. Khoảng 19 giờ cùng ngày, C đi xe taxi đến khu vực đối diện cổng Ủy ban nhân dân quận K, T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng và xuống xe, C đang đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Công an đã thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của C 01 túi nilon (kích thước 02x02cm) chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.
Bản Kết luận giám định số 491/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Trung C gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,15 gam, loại: Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Trung C tại thôn V, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Phạm Trung C. Kết quả, Cường dương T với chất ma túy Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Phạm Trung C khai nhận phù hợp với nội dung trên. C cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cá nhân. Nguồn gốc số tiền mua ma túy do C lao động mà có. Khi mượn xe mô tô C không nói cho người bạn trên biết về việc đi mua ma túy sử dụng. C không nhớ đặc điểm người lái xe và hãng xe taxi, người lái xe taxi không biết C mua và cất giữ trái phép chất ma túy. C không nhận dạng được người phụ nữ bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSKA ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Phạm Trung C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, đồng thời bổ sung thêm nội dung bản cáo trạng đề nghị áp dụng thêm đặc điểm nhân thân bị cáo có 01 tiền sự và đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do bị cáo là người khuyết tật nặng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:
Bị cáo Phạm Trung C: 15 – 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ từ ngày tạm giữ.
Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Nhất trí với tội danh và điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo C, nhất trí việc đề nghị miễn hình phạt bổ sung và án phí. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo là người khuyết tật nặng, phạm tội nhưng mức nguy hiểm thấp, ít nguy hiểm cho xã hội vì chỉ tàng trữ trái phép ma tuý để sử dụng cho bản thân, số lượng ma tuý tàng trữ không lớn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo với mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ ngày 20/4/2024, Phạm Trung C đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực đường C, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Bị cáo Phạm Trung C có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực đường C, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo C có 01 tiền sự: Quyết định số 09/2021/QĐ-TA ngày 26/8/2021 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Trung C trong thời gian 18 tháng. Đã chấp hành xong ngày 10/5/2023. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 20/4/2024 nên tiền sự trên chưa được xoá nên xác định bị cáo có 01 tiền sự, nhân thân không tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật nặng theo Quyết định về việc trợ cấp xã hội số 1442/QĐ-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2014 của UBND huyện A, thành phố Hải Phòng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[10] Đối với ma tuý sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
- Về án phí:
[11] Bị cáo là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về các nội dung khác:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Phạm Trung C. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Trung C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Phạm Trung C: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong một bì thư (dấu niêm phong số 491MT/PC09) thu giữ của Phạm Trung C.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Lã Anh Tuấn | Trần Thị Trúc Hoa | Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
