|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 136/2024/HS-ST
Ngày: 24-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đình Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Nhị, ông Nguyễn Văn Được.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 và 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 16/TB-TA ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
* Bị cáo:
1. Bị cáo thứ nhất: Trần Thị Hương L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1997; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L1 - Sinh năm: 1972 và bà Chu Thị H – Sinh năm: 1979; Bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo thứ hai: Nguyễn Thị Quỳnh N; Tên gọi khác: N1; Sinh năm: 1998; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức N2 - Sinh năm: 1975 và bà Lưu Thị H1 – Sinh năm: 1976; Bị cáo có chồng tên Nguyễn Phạm Nam N3 – Sinh năm: 1994; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Bị cáo thứ ba: Nguyễn Phạm Nam N3; Tên gọi khác: B; Sinh năm: 1994; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1958 và bà Phạm Thanh H2 – Sinh năm: 1962; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Quỳnh N – Sinh năm: 1998; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Hương L: Ông Nguyễn Thành T1 – Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt).
* Người bị hại:
Bà Chu Thị H – Sinh năm: 1979 (Có mặt).
Trú tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
* Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Vũ T2 – Sinh năm: 2002 (Vắng mặt).
Trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
2/ Ông Trần Văn L1 – Sinh năm: 1972 (Có mặt).
Trú tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2018, bị cáo Trần Thị H3 Liên thông qua mạng xã hội Faceboook quen biết với bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N. Trong thời gian này, bị cáo L có vay tiền của bị cáo N số tiền khoảng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và hẹn đến khoảng đầu tháng 9/2022 sẽ trả tiền lãi. Khi đến ngày hẹn, do không có tiền trả lãi nên bị cáo L nhiều lần gọi điện thoại cho bị cáo N nói cho bị cáo L chậm tiền trả lãi nhưng bị cáo Như K đồng ý.
Lúc này, bị cáo L biết được thông tin về em trai ruột của mình tên Trần Văn Q đang học lớp 8A5 của Trường Trung học cơ sở T5 có địa chỉ tại thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước chưa đóng tiền học phí cho nhà trường nên đã nảy sinh ý định lừa đảo bà Chu Thị H (mẹ ruột bị cáo L) để chiếm đoạt số tiền học phí của Q nhằm trả nợ cho bị cáo N. Ngày 22/9/2022, bị cáo L nói cho bị cáo N biết về những thông tin trên và nhờ bị cáo N tìm người đóng giả làm thầy giáo chủ nhiệm của Q để gọi điện thoại nói chuyện với bà H yêu cầu đóng tiền học phí cho Q thì bị cáo N đồng ý. Ngày 23/9/2022, bị cáo N nhờ bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 đóng giả làm thầy giáo chủ nhiệm của Q gọi điện cho bà H để lừa lấy tiền thì bị cáo N3 đồng ý. Lúc này, bị cáo N mượn điện thoại di động nhãn hiệu XS max màu gold sim số 0915779844 của ông Nguyễn Vũ T2 và đưa cho bị cáo N3 để bị cáo N3 gọi đến cho số điện thoại 0989.545.xxx của bà H tự giới thiệu “Tôi là thầy dạy văn của em Trần Văn Q, lớp 8A5, chị đóng tiền học phí cho em Q để tôi chốt danh sách”. Bị cáo N3 tiếp tục soạn tin nhắn “Chị ơi, chị chuyển tiền học của em Q giúp em, để em còn kết toán nộp cho T3 nha chị, STK em: S 0501020576736. Nguyễn Vũ T2” và gửi cho bà H. Lúc này, bà H cùng ông Trần Văn L1 đang ở Công ty ô tô “M” thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy có người gọi điện thoại và nhắn tin với nội dung như trên nên lấy điện thoại di động của ông L1 để thực hiện chuyển khoản số tiền 7.090.000 đồng (Bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) từ số tài khoản 021874037, ngân hàng V mang tên Trần Văn L1 đến tài khoản của Nguyễn Vũ T2 và kèm theo nội dung “CT học cho em Trần Văn Q 8a5”. Sau khi nhận được tiền, bị cáo N nhờ Trung chuyển trả lại cho bà H số tiền 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng) do bà H chuyển dư và chuyển số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) vào số tài khoản 999993698 ngân hàng ACB mang tên Nguyễn Thị Quỳnh N. Đến khoảng tháng 10/2022, bà H phát hiện ra sự việc mình bị lừa đảo chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) nên ngày 14/01/2024 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ trình báo sự việc (Các bút lục 99->105, 198->271).
Tại bản Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
Trích xuất dữ liệu ứng dụng Facebook Messenger trên điện thoại di động Iphone Xr gửi giám định ký hiệu A, từ 00 giờ 00 phút ngày 22/9/2022 đến ngày 24 giờ 00 phút ngày 30/09/2022. Kết quả: Tìm thấy 991 (Chín trăm chín mươi mốt) tin nhắn bằng ứng dụng Messenger giữa tài khoản "Nguyễn Thị Quỳnh N" với tài khoản "Trần Liên", nội dung chi tiết thể hiện trong tập tin “Phụ lục.xlsx”, dung lượng 6,20MB, mã MD5 là: FBF81DC9EDEA8C4F4EF9344C27BE199F, gửi kèm theo. Không tìm thấy lịch sử cuộc gọi đi và đến bằng ứng dụng Facebook Mesenger (Bút lục 47, 48).
Tại bản Kết luận giám định số 517/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Không phục hồi, trích xuất dữ liệu về nội dung tin nhắn, lịch sử cuộc gọi từ ứng dụng mạng xã hội Messenger điện thoại di động hiệu Iphone gửi giám định ký hiệu A. Do không có mật khẩu nên không mở được điện thoại để kiểm tra và phần mềm không phục hồi, trích xuất được dữ liệu (Bút lục 49, 50).
Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị H3 Liên từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N từ 06 tháng tù đến 09 tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Hương L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L và xin cho bị cáo L được hưởng án treo.
Người bị hại bà Chu Thị H đã nhận tiền bồi thường khắc phục hậu quả của các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bà H không có yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, bà H bãi nại cho các bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin cho các bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát, lời trình bày của các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N, Nguyễn Phạm Nam N3, người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Hương L, người bị hại Chu Thị H, người làm chứng Trần Văn L1 tại phiên tòa và lời khai của người làm chứng Nguyễn Vũ T2 có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 23/9/2022, các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 đã dùng thủ đoạn gian dối giả mạo thầy giáo của em Trần Văn Q gọi điện thoại và nhắn tin cho bà Chu Thị H là mẹ của em Q yêu cầu bà H chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) đóng học phí cho em Q. Sau khi bà H chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, các bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, quá trình thực hiện tội phạm các bị cáo hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền trả nợ và lấy được nợ, các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác - khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà nó còn gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất lòng tin giữa con người với nhau. Tuy nhiên, đây là vụ án có đồng phạm nên cần phải phân tích đánh giá hành vi của từng bị cáo để có cở sở khi lượng hình.
[3.1] Đối với bị cáo Trần Thị Hương L: Bị cáo là người khởi xướng và đưa ra thông tin về việc em trai của bị cáo là em Trần Văn Q chưa đóng tiền học phí rồi nhờ bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N tìm người giả mạo thầy giáo của em Q gọi điện thoại cho bà Chu Thị H để chiếm đoạt tiền của bà H. Sau khi chiếm đoạt được tiền của bà H, bị cáo L dùng chính số tiền đó trả nợ cho bị cáo N. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, trước khi phạm tội lần này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Chu Thị H. Tại phiên tòa người bị hại Chu Thị H bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đang nuôi con nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần phải áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo và nghĩ không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục bị cáo là đủ để thể hiện tính nhận đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
[3.2] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N: Bị cáo là người giúp sức cho bị cáo Trần Thị Hương L để chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của bà Chu Thị H. Chính bị cáo là người đã nhờ bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 đóng giả làm thầy giáo của em Trần Văn Q rồi sử dụng điện thoại gọi điện và nhắn tin cho bà H yêu cầu bà H chuyển tiền đóng học phí cho em Q sau đó chiếm đoạt số tiền trên. Vì vậy, cũng cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, trước khi phạm tội lần này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Chu Thị H. Tại phiên tòa người bị hại Chu Thị H bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần phải áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo và nghĩ không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục bị cáo là đủ để thể hiện tính nhận đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
[3.3] Đối với bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3: Bị cáo cũng là người giúp sức cho bị cáo Trần Thị Hương L nhằm để chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) của bà Chu Thị H. Chính bị cáo là đã giả mạo thầy giáo của em Trần Văn Q rồi sử dụng điện thoại gọi điện và nhắn tin cho bà H yêu cầu bà H chuyển tiền đóng học phí cho em Q sau đó chiếm đoạt số tiền trên. Vì vậy, cũng cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, trước khi phạm tội lần này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Chu Thị H. Tại phiên tòa người bị hại Chu Thị H bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần phải áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo và nghĩ không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục bị cáo là đủ để thể hiện tính nhận đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
[4] Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với ông Nguyễn Vũ T2 là người được bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N mượn điện thoại di động sau đó đưa cho bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 sử dụng và chuyển số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) vào số tài khoản ngân hàng của ông T2. Quá trình điều tra xác định ông T2 không biết bị cáo N và bị cáo N3 sử dụng điện thoại vào việc phạm tội, đồng thời không biết các bị cáo L, N và N3 chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng của bà Chu Thị H nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
[6] Đối với việc bị cáo Trần Thị Hương L khai báo về việc bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Quá trình điều tra bị cáo L chưa cung cấp các tài liệu liên quan đến việc cho vay nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý trong vụ án này.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại bà Chu Thị H đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
Đối với số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) mà các bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo Biên lai thu tiền số 0000909 ngày 31/7/2024 để bồi thường cho người bị hại Chu Thị H. Xét thấy đây là số tiền các bị cáo N, N3 bồi thường cho bà H nên cần tuyên trả lại cho bà H.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, số imei 357277098738175, số máy: MT612LL/A, màu vàng đồng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, số imei: 352890116501444, số máy: MH7F3LL/AMT612LL/A, màu trắng. Là những phương tiện được bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí:
Các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Hương L, Nguyễn Thị Quỳnh N (Tên gọi khác: N1) và Nguyễn Phạm Nam N3 (Tên gọi khác: B) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Hương L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2024).
Tuyên giao bị cáo Trần Thị Hương L cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Trần Thị Hương L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Thị Hương L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo Trần Thị Hương L phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp bị cáo Trần Thị Hương L vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2024).
Tuyên giao bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2024).
Tuyên giao bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Phạm Nam N3 vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên trả lại cho người bị hại Chu Thị H số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) mà các bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N và Nguyễn Phạm Nam N3 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo Biên lai thu tiền số 0000909 ngày 31/7/2024.
4. Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, số imei 357277098738175, số máy: MT612LL/A, màu vàng đồng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, số imei: 352890116501444, số máy: MH7F3LL/AMT612LL/A, màu trắng.
(Số vật chứng trên đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002281, Quyển số 0046, ký hiệu D47/2017 ngày 08/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa CAO ĐÌNH THÀNH |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Hương Liên, Nguyễn Thị Quỳnh Như (Tên gọi khác: Ny) và Nguyễn Phạm Nam Ngọc (Tên gọi khác: Boo) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
