|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 136/2024/HS-ST Ngày: 24 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Nguyên.
2. Ông Phạm Công Gia.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L
– sinh năm: 1960, tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh Q (đã chết) và bà Võ Thị H (đã chết); Chồng: Nguyễn Hồng T (đã chết); Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án: Ngày 31/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 50.000.000 đ về tội Đánh bạc, chấp hành xong bản án vào ngày 25/7/2024; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L là người bán vé số dạo. Từ khoảng cuối tháng 6/2024, L đứng ra nhận ghi số đề cho những người dân xung quanh chơi. L đứng ra nhận thầu số đề để ăn thua trực tiếp với người chơi chứ không giao lại số đề cho người khác.
Hình thức chơi là khi có người có nhu cầu đánh đề sẽ gặp L và chọn con số đánh và số tiền đặt cược. Hằng ngày, sau khi có kết quả xổ số của Công ty X (tùy theo ngày sẽ căn cứ vào kết quả của các Công ty xổ sổ khác nhau) thì L sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng để trả tiền đánh bạc cho người chơi. L và những người chơi thỏa thuận các hình thức chơi gồm “đá”, “dọc”, “xỉu chủ”, “bao lô”, “đầu đuôi”. Theo đó, mỗi hình thức chơi sẽ có cách thức thắng tiền khi con số người chơi chọn trúng với con số mà công ty X công bố vào lúc 16 giờ 30 phút hàng ngày gấp khoảng 70 lần số tiền mà người chơi đã chọn. Trung bình mỗi ngày L sẽ thu lợi bất chính từ việc ghi số đề từ 200.000đ đến 300.000đ.
Đến 14 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, tại quán C thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị L về hành vi đánh bạc trái phép với hình thức ghi số đề.
Tang vật thu giữ: 01 tờ phơi đề ngày 05/7/2024, số tiền 4.500.000đ, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen.
Quá trình điều tra làm rõ trong ngày 05/7/2024, L ghi số đề được 10.338.500đ. Quá trình ghi số đề, L thường cho người chơi nợ tiền ghi đề nên thực tế vào ngày 05/7/2024 L mới chỉ thực nhận được số tiền 2.500.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 140/CT-VKSTP-ĐN ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị L và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Nguyễn Thị L từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đ là tiền liên quan đến tội phạm. Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L số tiền 2.000.000đ không liên quan đến tội phạm.
Bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị L có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số đề với số tiền 10.338.500đ.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn cờ bạc diễn ra ngày càng phức tạp, là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Vì vậy để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần thiết phải xét xử và áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tình tiết “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra còn xem xét việc bị cáo là người cao tuổi, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ là Liệt sỹ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về nhân thân: Bị cáo tái phạm, có nhân thân xấu.
[7]. Về hình phạt:
[7.1] Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 4.500.000đ thu giữ khi bắt quả tang, trong đó:
+ Số tiền 2.500.000₫ liên quan đến việc phạm tội. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
+ Số tiền 2.000.000đ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho bị cáo là phù hợp.
[9]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[10]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 05 tháng 7 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
(Theo biên lai thu tiền số 0005570 ngày 13/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Buộc Nguyễn Thị L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Lưu hồ sơ vụ án – VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Đánh bạc
