Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm

Ông Trần Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Châu L; tên gọi khác: Không, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2000 tại tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: P, căn hộ S H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lập C, sinh năm: 1973 và bà Châu Thị S, sinh năm: 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  2. Ngô Đông T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2004 tại Quảng Nam; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ B, thôn V, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: P, căn hộ S L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh T1, sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1974; gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Thanh T2; tên gọi khác: Không, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2001 tại Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: P, căn hộ S H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H1, sinh năm: 1968 và bà Dương Thị Thúy L1, sinh năm: 1971; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  4. Bùi Văn Â; tên gọi khác: Không, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2001 tại Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: P, căn hộ S H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D, sinh năm: 1979 và bà Thái Thị V, sinh năm: 1982; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  5. Lê Hữu M; tên gọi khác: Không, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2000 tại Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: P, căn hộ S H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Thiết kế nội thất; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu L2, sinh năm: 1964 và bà Đoàn Thị T3, sinh năm: 1971; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  6. Phạm Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 7 năm 2005 tại tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; chỗ ở: K T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Phạm Thị T4, sinh năm: 1965, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ từ ngày 30/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
  7. Nguyễn Hoàng T5; tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 8 năm 2004 tại tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Số G T, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Số E A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T6, sinh năm: 1977 và bà Phạm Thị M1, sinh năm: 1980, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01; Nhân thân: Ngày 17/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS theo Bản án số 84/2024/HSST; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
  8. Võ Quang T7; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 6 năm 2000 tại thành phố Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A H, tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lễ tân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Quang T8, sinh năm: 1978 và bà Quảng Thị Ngọc D1, sinh năm: 1976, bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 142 ngày 03/5/2024 của Công an quận H, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (nộp tiền ngày 19/6/2024); Quyết định xử phạt hành chính số 172/QĐ-XPHC ngày 27/5/2024 của Công an quận H, xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (nộp tiền ngày 18/7/2024). Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giam Công an quận H từ ngày 18/5/2024, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Bà Đặng Thị Hồng N, sinh năm: 1981. Địa chỉ: F H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
  • Ông Phạm Quang H2, sinh năm: 1999. Địa chỉ: K Dũng Sĩ T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người làm chứng:

  • Ông Vũ Ngọc A, sinh năm: 2004. Nơi ĐKHKTT: Thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: P, căn hộ S H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Trần Châu L, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Ngô Đông T9, Phạm Văn Đ, Lê Hữu MVũ Ngọc A cùng ăn nhậu tại Phòng 402, nhà trọ số F H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng là nơi ở của L, T2, Â, M, thuê của bà Đặng Thị Hồng N. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, sau khi nhậu xong, L rủ cả nhóm mua ma tuý về cùng sử dụng tại Phòng 402 thì T, T2, Â, M, Đ đồng ý; riêng Anh say nằm ngủ nên không tham gia. L, T, T2, Â, M, Đ thống nhất để T2 trả tiền mua ma túy và tiền thuê loa đèn về để sử dụng ma túy trước, sau khi sử dụng ma tuý xong sẽ chia đều tổng số tiền cho 06 người tham gia rồi từng người trả tiền lại cho T2.

Tiếp đó, T liên lạc với R (không rõ lại lịch) qua ứng dụng Zalo để mua 04 viên thuốc lắc và 2,5 gam Ketamine với giá 4.200.000 đồng, T2 trả tiền mua ma túy bằng cách chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của Lê Văn R (sinh năm: 2004; NKTT: Thôn L, X. Đ, H. Đ, T. Quảng N1). Cùng lúc đó, L liên hệ với Phạm Quang H2 thuê 01 cái loa và 02 cái đèn với giá 400.000 đồng để nghe nhạc khi sử dụng ma túy, H2 đồng ý cho thuê mà không biết việc L sử dụng ma tuý. T2 tiếp tục trả tiền thuê loa đèn bằng cách chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của H2. Tất cả đều hẹn giao hàng tại F H, thành phố Đà Nẵng.

Đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, H2 đến điểm hẹn và liên lạc L để giao loa, đèn; L đi xuống trước nhà nhận loa đèn rồi đem lên phòng 402 lắp ráp, bật nhạc và đèn.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, R liên lạc báo T ma túý đã giao tới điểm hẹn, T nói L đi nhận ma túý. L đi xuống trước nhà nhận ma tuý từ một nam thanh niên (không rõ lai lịch), sau lên Phòng 402 và vào bếp lấy 01 cái đĩa sứ màu trắng cùng đem vào phòng ngủ của Phòng 402. Tại phòng ngủ lúc này có 06 người là L, T, T2, Â, M, Đ; L đổ ma túy Ketamine ra tờ tiền 5.000 đồng (của L), bọc lại, đốt nóng rồi bỏ ra đĩa sứ; L hỏi cả nhóm "có ai có thẻ ngân hàng không" thì  đưa 01 thẻ ngân hàng của  cho L, L dùng thẻ này nghiền và chia Ketamine thành nhiều đường thẳng trên đĩa sứ; T2 dùng tờ tiền 10.000 đồng (của T2), để quấn thành ống hút (ống thứ nhất),  dùng tờ tiền giấy 1.000 đồng (của Â) và giấy bạc để quấn ống hút (ống thứ hai); L cũng để 04 viên thuốc lắc ra đĩa sứ, ai muốn thì tự đến lấy bẻ ra sử dụng. Sau đó, L, T, T2, Â, M, Đ đều sử dụng thuốc lắc và dùng 02 ống hút nêu trên để sử dụng ma túy Ketamine trên đĩa sứ.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm sử dụng hết số ma túy nêu trên nên L liên lạc với Võ Khánh N2 (không rõ lai lịch) để hỏi mua thêm ma túy về sử dụng thì được N2 giới thiệu Võ Quang T7 có bán ma tuý. L liên lạc với T7 qua ứng dụng zalo hỏi mua "nửa hộp 5" ma tuý Ketamine, T7 liên lạc T5 hỏi có bán ma tuý không thì T5 đồng ý bán với giá 3.500.000 đồng và T5 sẽ trả cho T7 200.000 đồng tiền công giới thiệu. Tiếp đó, T7 liên lạc L báo giá và yêu cầu L trả trước tiền mua ma túy, L đồng ý và T2 đã trả tiên mua ma túy bằng cách chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của T7. Sau khi nhận được 3.500.000 đồng tiền mua ma túy từ T, T7 chuyển khoản toàn bộ số tiền này cho T5 và báo cho T5 số điện thoại liên lạc của L và địa chỉ hẹn giao ma túy tại F H, TP .

Đến khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, T5 đến điểm hẹn, để "nửa hộp 5" ma tuý Ketamine xuống nền đường trước nhà 63 H, TP . và liên lạc chỉ dẫn vị trí để L xuống nhận ma tuý rồi rời đi. L nhận ma túy đem lên phòng ngủ của Phòng 402, đổ ma túy ra tờ tiền 5.000 đồng, bọc lại, đột nóng rồi bỏ ra đĩa sứ, dùng thẻ ngân hàng của  ghiền và chia ma tuý thành nhiều đường thắng trên đĩa sứ. Sau đó, L, T, T2, Â, M, Đ dùng 02 ống hút nêu trên để sử dụng ma tuý Ketamine trên đĩa sứ. Lúc 08 giờ 30 phút cùng ngày thì cả nhóm bị Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy còn lại chưa sử dụng hết.

Nguồn gốc số ma tuý Ketamine T10 bán cho LT10 mua của T11 (không rõ lai lịch) từ ngày 28/01/2024 với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho L, T10 trả công cho T7 200.000 đồng tiền giới thiệu, T10 hưởng lợi 300.000 đồng, T10T7 đã tiêu xài hết số tiền này.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 17/5/2024, T7 dương tính.

Vật chứng tạm giữ:

  • * Tại Phòng 402, căn hộ F H, P. Hòa Cường B, Q. H, TP .:
    • - 01 đĩa sứ màu trắng bên trên có dính chất bột màu trắng (niêm phong, ký hiệu A);
    • - 1 gói ni lông trắng kích thước (3x3,5) cm, bên trong chứa chứa tinh thể rắn, màu trắng (niêm phong cùng với chất bột màu trắng trên đĩa đã trích ra bỏ vào bao ni lông kích thước (6x10) cm, ký hiệu B);
    • - 01 thẻ nhựa màu tím Ngân hàng T14 mang tên BUI VAN AN, có dính chất bột màu trắng (niêm phong, ký hiệu C);
    • - 01 tờ tiền 5.000 đồng có dính chất bột màu trắng (niêm phong, ký hiệu D);
    • - 01 ống hút được quấn từ tờ tiền 10.000 đồng có dính chất bột màu trắng;
    • - 01 ống hút được quấn từ tờ tiền 1.000 đồng và bọc giấy bạc, có dính chất bột màu trăng (niêm phong, ký hiệu E);
    • - 01 cái bật lửa;
    • - 01 cái loa màu đen và 02 cái đèn màu đen;
    • - 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353751254940894, gắn sim số 0965.519.570; của Trần Châu L. (Kiểm tra bên trong có nội dung tin nhắn, cuộc gọi liên quan việc mua ma tuý và thuê loa đèn)
    • - 01 điện thoại di động, màu xanh, có chữ Redmi, I: 866873059165483, gắn sim số: 0797.796.224, của Ngô Đông T.
    • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, I: 351109226244055, gắn sim số 0943.309.806; của Nguyễn Thành T12. (Kiểm tra bên trong có nội dung chuyển khoản tiền mua ma tuý và thuê loa đèn)
    • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 352233858210389; củaNguyễn Thành Thái.
    • - 01 điện thoại di động Oppo, màu đỏ, số Imei: 867791046745754, gắn sim số 0375.492.700; của Lê Hữu M.
    • - 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, số Imei: 354871093247340, gắn sim: 0326.471.302; của Phạm Văn Đ.
  • * Tiến hành thu giữ và niêm phong nước tiểu của 07 người theo quy định phục vụ giám định, như sau:
    • - Mẫu nước tiểu của Nguyễn Thanh T2. Ký hiệu số 1.
    • - Mẫu nước tiểu của Trần Châu L. Ký hiệu số 2.
    • - Mẫu nước tiểu của Phạm Văn Đ. Ký hiệu số 3.
    • - Mẫu nước tiệu của Ngô Đông T13. Ký hiệu số 4.
    • - Mẫu nước tiểu của Lê Hữu M. Ký hiệu số 5.
    • - Mẫu nước tiểu của Vũ Ngọc A. Ký hiệu số 6.
    • - Mẫu nước tiểu của Bùi Văn Â. Ký hiệu số 7.
  • * Võ Quang T7 giao nộp: 01 Điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, số Imei 1: 357104919769991, số imei 2: 357104919660356, gắn sim số 0935.999.165. (Kiểm tra bên trong có nội dung liên quan việc mua bán ma túy)

Tại Bản Kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K1 Công an T kết luận:

  • Mẫu ký hiệu B được phân thành:
    • - Chất bột màu trắng trong 01 gói ni lông ký hiệu B1.
    • - Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói ni lông ký hiệu B2.
    • - Chất bột, tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu B1, B2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu B1: 0,114 gam, B2: 0,599 gam.
  • - Chất bột màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu tím mang tên Bui Van A1, 01 tờ tiền 5.000đ, 01 tờ tiền 1.000₫ được quấn tròn thành ống hút bọc giấy bạc bên ngoài và 01 tờ tiền 10.000đ được quấn tròn thành ống hút cố định giấy màu vàng 2 đầu trong các bì niêm phong ký hiệu A, C, D, E gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; không xác định được khối lượng mẫu A, C, D, E.
  • - Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Thanh T2, Trần Châu L, Phạm Văn Đ, Ngô Đông T, Lê Hữu M, Bùi Văn  ký hiệu lần lượt 1, 2, 3, 4, 5, 7 gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy; loại MDMA và Ketamine.
  • - Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu ghi thu của Vũ Ngọc A ký hiệu 6.

Tại Bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và các bị cáo Nguyễn Hoàng T5, Võ Quang T7 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị HĐXX:

  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Châu L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Đông T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn  từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hữu M từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T5 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Quang T7 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý tang vật: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Truy thu của Nguyễn Hoàng T5 số tiền 300.000 đồng và Võ Quang T7 số tiền 200.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Ma tuý và bao gói mẫu còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa mang tên Bui Van A1 trong 05 bì niêm phong ký hiệu mẫu A, B, C, D, E; 01 cái bật lửa; (là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • + 01 tờ tiền 5.000đ trong bì niêm phong ký hiệu D (của L dùng tổ chức sử dụng ma tuý)
    • + 01 tờ tiền 1.000đ và 01 tờ tiền 10.000đ trong bì niêm phong ký hiệu E của Â, T2 dùng tổ chức sử dụng ma tuý.
    • + 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353751254940894, gắn sim số 0965.519.570 của L dùng liên hệ mua ma tuý và thuê loa đèn.

+ 01 điện thoại di động, màu xanh, có chữ Redmi, I: 866873059165483, gắn sim số: 0797.796.224; của T dùng liên hệ mua ma tuý.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, I: 351109226244055, gắn sim số 0943.309.806 của T2 dùng trả tiền mua ma tuý và thuê loa đèn.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, số Imei 1: 357104919769991, số imei 2: 357104919660356, gắn sim số 0935.999.1651 của T7 dùng liên lạc mua bán ma tuý.

- Truy thu sung sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Hoàng T5 là 300.000 đồng, của Võ Quang T7 là 200.000 đồng.

- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp do không liên quan đến tội phạm:

  • + Trả cho anh Phạm Quang H2: 01 cái loa màu đen và 02 cái đèn màu đen.
  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Thành T12: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số I: 352233858210389.
  • + Trả cho bị cáo Lê Hữu M: 01 điện thoại di động Oppo, màu đỏ, số Imei: 867791046745754, gắn sim số 0375.492.700.
  • + Trả cho bị cáo Phạm Văn Đ: 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, số Imei: 354871093247340, gắn sim: 0326.471.302.

Quy trữ số tiền 2.573.041 VNĐ (hai triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng) có trong tài khoản bị phong tỏa tài khoản ngân hàng T15 có số tài khoản 19070792325016 có tên tài khoản là NGUYEN HOANG THANH theo biên bản phong toả ngày 10/9/2024 để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi các bị cáo Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Bị cáo Trần Châu L nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi các bị cáo khác vì đã rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.

Bị cáo Ngô Đông T nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Thanh T2 nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Bùi Văn  nói lời nói sau cùng: Hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về phụ giúp cha mẹ.

Bị cáo Lê Hữu M nói lời nói sau cùng: Hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Phạm Văn Đ nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Hoàng T5 nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Võ Quang T7 nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ, Nguyễn Hoàng T5, Võ Quang T7 tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào khoảng 01 giờ 00 phút đến 08 giờ 30 phút ngày 30.01 2024, Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ đã thống nhất cùng nhau góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thuốc lắc và Ketamine tại nơi ở của L, T2, Â, M tại Phòng 402, nhà trọ số F đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. L là người rủ rê, khởi xướng, trực tiếp liên hệ mua ma tuý (lượt mua thứ 2) và thuê loa đèn để sử dụng ma tuý; cung cấp thông tin để T2 trả tiền mua ma tuý và tiền thuê loa đèn; trực tiếp đi nhận ma tuý (cả 02 lượt mua), chuẩn bị dụng cụ đựng ma tuý, đốt nóng, nghiền và đổ ma tuý ra dụng cụ để cả nhóm sử dụng ma tuý. Tuyền trực tiếp liên hệ mua ma tuý (lượt mua thứ 1); cung cấp thông tin để T2 trả tiền mua ma tuý và L đi nhận ma tuý. T2 trả trước tiền mua ma tuý và tiền thuê loa đèn cho cả nhóm sử dụng ma tuý; chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý. Â cung cấp dụng cụ nghiền ma tuý; chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý. Do đó hành vi của Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 30/01/2024, tại trước nhà số F đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho L, T5 thu lợi bất chính 300.000 đồng, T7 thu lợi bất chính 200.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ, Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo thì thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu M, Phạm Văn Đ biết thuốc lắc và K là chất ma túy gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, việc sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Các bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội.

  • - Trần Châu L đã có hành vi khởi xướng việc cả nhóm sử dụng ma túy, tham gia bàn bạc, thống nhất góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. L liên hệ thuê loa đèn rồi lắp ráp loa đèn mở nhạc để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xuống nhận ma túy lượt đầu tiên rồi mang ma túy vào phòng 402, lấy đĩa sứ màu trắng, đổ ma túy Ketamine ra tờ tiền 5.000đ rồi đốt nóng ma túy Ketamine, đồ ma túy Ketamine ra đĩa sứ màu trắng rồi dùng thẻ ngân hàng của A1 nghiền ma túy Ketamine, chia ma túy Ketamine thành nhiều đường nhỏ để cả nhóm sử dụng. L là người liên hệ mua ma túy ở lượt thứ 2 rồi mang ma túy vào phòng 402, tiếp tục đồ ma túy Ketamine ra tờ tiền 5.000đ rồi đốt nóng ma túy, đổ ma túy Ketamine ra đĩa sứ màu trắng rồi dùng thẻ ngân hàng của  nghiền ma túy Ketamine chia ma túy Ketamine thành nhiều đường nhỏ để cả nhóm sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
  • - Ngô Đông T có hành vi tham gia bàn bạc, thống nhất góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. T là người liên hệ mua ma tuý ở lượt đầu tiên đề cả nhóm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Nguyễn Thanh T2 có hành vi tham gia bàn bạc, thống nhất góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển khoản tiền mua ma túy ở cả 2 lượt và chuyển khoản tiền thuê loa đèn để cả nhóm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, dùng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000₫ cuốn thành 01 ống hút cố định bởi 2 cuộn giây vàng 2 đầu để cả nhóm sử dụng ma túy Ketamine.

Các bị cáo Ngô Đông TNguyễn Thanh T2 có vai trò tích cực sau Trần Châu L nên hình phạt của các bị cáo thấp hơn Trần Châu L.

  • - Bùi Văn  có hành vi tham gia bàn bạc, thống nhất góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đưa thẻ ngân hàng T16 có tên BUI VAN AN cho L để L sử dụng nghiền ma túy Ketamine và chia ma túy Ketamine thành nhiều đường nhỏ và dùng 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ cuốn thành 01 ống hút được bọc giấy bạc bên ngoài để cả nhóm sử dụng hít ma túy Ketamine. Do đó,  có vai trì ít tích cực hơn nên bị cáo phải chịu hình phạt thấp hơn TT2.
  • - Lê Hữu MPhạm Văn Đ có hành vi tham gia bàn bạc, thống nhất góp tiền để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Lê Hữu MPhạm Văn Đ phạm tội lần đầu, tham gia trong vụ án đồng phạm có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể do đó HĐXX sẽ áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo xử phạt các bị cáo này dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân. Để có tiền tiêu xài cá nhân nên T5T7 đã có hành vi bán ma túy để thu lợi bất chính.

  • - Võ Quang T7 có hành vi giới thiệu Trần Châu L đến Nguyễn Hoàng T5 để L mua ma túy của T5. T7 có hành vi trao đổi thống nhất giá bán ma túy và địa điểm giao ma túy với LT5. T7 sử dụng tài khoản ngân hàng của bản thân để nhận tiền mua ma túy từ L rồi T7 chuyển khoản số tiền mua ma túy đến tài khoản ngân hàng của T5.
  • - Nguyễn Hoàng T5 có hành vi bán ma túy cho Trần Châu L thông qua sự giới thiệu của Võ Quang T7. T5 đã thu lợi bất chính số tiền 300.000 đồng, T7 thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Từ những nhận định trên, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. HĐXX xét thấy cần phải xét xử một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  • - Đối với Vũ Ngọc A: không biết, không tham gia, không giúp sức các bị cáo phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý.
  • - Đối với anh Phạm Quang H2: không biết L thuê loa, đèn để sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ.
  • - Đối với bà Đặng Thị Hồng N cho L, A1, T2, M thuê Phòng 402, nhà trọ 63 H, thành phố Đà Nẵng để làm nơi ở, không biết, không giúp sức các bị cáo phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý. Bà N không đăng ký thành lập hộ kinh doanh và doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực cho thuê phòng trọ, Công an quận H đã chuyển UBND quận H xử lý theo chức năng và thẩm quyền là có căn cứ.
  • - Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Quang T7, Công an quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
  • - Đối với R - người bán ma túy cho T; người thanh niên giao ma túy cho L; Võ Khánh N2 - người giới thiệu T7 bán ma tuý cho L; T11 - người bán ma túy cho T5, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
  • - Đối với Lê Văn R - chủ tài khoản ngân hàng nhận tiền mua ma túy, hiện chưa làm việc được, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ.

[7] Về Xử lý tang vật: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý như sau:

Đối với Nguyễn Hoàng T5 hưởng lợi số tiền 300.000 đồng và Võ Quang T7 hưởng lợi số tiền 200.000 đồng từ việc bán ma túy là tiền thu được từ việc phạm tội là tiền thu lợi bất chính nên HĐXX truy thu số tiền này sung quỹ Nhà nước.

Quy trữ số tiền 2.573.041 VNĐ (hai triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng) có trong tài khoản bị phong tỏa tài khoản ngân hàng T15 có số tài khoản 19070792325016 có tên tài khoản là NGUYEN HOANG THANH theo biên bản phong toả ngày 10/9/2024 để đảm bảo thi hành án.

Đối với ma tuý và bao gói mẫu còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu tím Ngân hàng T14 mang tên BUI VAN AN; 05 bì niêm phong ký hiệu mẫu A, B, C, D, E và 01 cái bật lửa là các công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 tờ tiền 5.000đ trong bì niêm phong ký hiệu D (của L dùng tổ chức sử dụng ma tuý); 01 tờ tiền 1.000đ và 01 tờ tiền 10.000đ trong bì niêm phong ký hiệu E của Â; 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353751254940894, gắn sim số 0965.519.570 của Trần Châu L; 01 điện thoại di động, màu xanh, có chữ Redmi, I: 866873059165483, gắn sim số: 0797.796.224 của Ngô Đông T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, I: 351109226244055, gắn sim số 0943.309.806 của Nguyễn Thành T12 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, số Imei 1: 357104919769991, số imei 2: 357104919660356, gắn sim số 0935.999.165 của Võ Quang T7, các bị cáo sử dụng các tài sản này để thực hiện hành vi phạm tội, liên hệ mua bán ma tuý, thanh toán tiền nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 352233858210389 của Nguyễn Thành T12; 01 điện thoại di động Oppo, màu đỏ, số Imei: 867791046745754, gắn sim số 0375.492.700 của Lê Hữu M; 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, số Imei: 354871093247340, gắn sim: 0326.471.302 của Phạm Văn Đ, T12, MĐ không sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên trả lại các tài sản này cho các bị cáo.

Đối 01 cái loa màu đen và 02 cái đèn màu đen của Phạm Quang H2, H2 không biết T12 thuê loa đèn để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại tài sản này cho H2.

Những vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024.

Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Châu L, Ngô Đông T, Nguyễn Thanh T2, Bùi Văn Â, Lê Hữu MPhạm Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng T5Võ Quang T7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Châu L 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Đông T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T2 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn  07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/01/2024.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T5 03 (ba) năm tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Võ Quang T7 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2024.
  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: Ma tuý và bao gói mẫu còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu tím Ngân hàng T14 mang tên BUI VAN AN; 05 bì niêm phong ký hiệu mẫu A, B, C, D, E và 01 cái bật lửa.

Truy thu của Nguyễn Hoàng T5 số tiền 300.000 đồng và Võ Quang T7 số tiền 200.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Quy trữ số tiền 2.573.041 VNĐ (hai triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng) có trong tài khoản bị phong tỏa tài khoản ngân hàng T15 có số tài khoản 19070792325016 có tên tài khoản là NGUYEN HOANG THANH theo biên bản phong toả ngày 10/9/2024 để đảm bảo thi hành án.

Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 tờ tiền 5.000đ trong bì niêm phong ký hiệu D (của L dùng tổ chức sử dụng ma tuý)
  • - 01 tờ tiền 1.000đ và 01 tờ tiền 10.000đ trong bì niêm phong ký hiệu E của Â.
  • - 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353751254940894, gắn sim số 0965.519.570 của Trần Châu L.
  • - 01 điện thoại di động, màu xanh, có chữ Redmi, I: 866873059165483, gắn sim số: 0797.796.224 của Ngô Đông T.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, I: 351109226244055, gắn sim số 0943.309.806 của Nguyễn Thành T12.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, số Imei 1: 357104919769991, số imei 2: 357104919660356, gắn sim số 0935.999.165 của Võ Quang T7.

Trả lại:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S1, số Imei: 352233858210389 cho Nguyễn Thành T12.
  • - 01 điện thoại di động Oppo, màu đỏ, số Imei: 867791046745754, gắn sim số 0375.492.700 cho Lê Hữu M.
  • - 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, số Imei: 354871093247340, gắn sim: 0326.471.302 cho Phạm Văn Đ.
  • - 01 cái loa màu đen và 02 cái đèn màu đen cho Phạm Quang H2.

Những vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024.

  1. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về thời hạn kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - CA quận Hải Châu;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THA quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn L và đồng phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger