Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Thương

2. Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2024; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 220/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Số E, đường số F, tổ C, thôn A, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Tạ Quang M, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Đường số A, tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị Trần Thị H, anh Tạ Quang M tự nguyện tìm hiểu, trong thời gian tìm hiểu chị H có thai, sau khi sinh con năm 2023 thì chị H, anh M đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Mặc dù kết hôn nhưng chị H, anh M chưa tổ chức đám cưới, cũng chưa sống chung với nhau, chị H ở nhà cha mẹ ruột tại xã V, còn anh M ở với cha mẹ tại xã Đ một phần vì dịch bệnh, phần vì anh M hay ghen tuông, nghi ngờ nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả. Thời gian đầu chị H đã có gắng khuyên bảo để anh M thay đổi, chăm lo cho gia đình, vợ con và tổ chức đám cưới nhưng anh M vẫn không thay đổi được, mỗi lần gặp nhau là xảy ra cải vả. Từ đó chị H, anh M không còn quan tâm, yêu thương, liên lạc gì nhau. Hiện nay chị H không còn tình cảm với anh M, nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn.

Chị H, anh M có một người con chung là Tạ Trần Kim N, sinh ngày 23/8/2023. Từ khi sinh đến nay cháu N do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Đối với bị đơn anh Tạ Quang M:

Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiếu thông tin công dân trong cơ sở D về dân cư thể hiện:

Anh Tạ Quang M, sinh ngày 03 tháng 04 năm 1995; quê quán huyện L, tỉnh Hà Nam, nơi thường trú và chổ ở hiện nay tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại biên bản xác minh ngày 07/8/2024 (bút lục 19) thể hiện:

Chị Trần Thị H, anh Tạ Quang M tự nguyện tìm hiểu và đến với nhau. Trong quá trình tìm hiểu khoảng một tháng thì chị H mang thai nên hai bên gia đình có đi lại nhưng không tổ chức đám cưới. Sau khi sinh con, chị H, anh M mới tiến hành đăng ký kết hôn, nhưng không sống chung từ khi chị H mang thai cho đến nay. Bản thân anh M hay ghen tuông nghi ngờ chị H, đồng thời anh M không lo làm ăn, chơi bời thường xuyên ăn nhậu, nên gia đình không tổ chức đám cưới. Mặc dù đã kết hôn nhưng chị H ở với cha mẹ ruột, anh M ở tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, thời gian qua mỗi lần gặp nhau là chị H anh M xảy ra cải vả, xúc phạm nhau.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

  • - Về tố tụng:
    • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
    • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
    • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Tạ Quang M; giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn anh Tạ Quang M hiện thường trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con với anh Tạ Quang M nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Chị Trần Thị H, anh Tạ Quang M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 29/9/2023, số 70/2023 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị H, anh M chưa tổ chức đám cưới, cũng chưa sống chung với nhau do vợ chồng thường xuyên xả ra cải vả, chưởi bới, xúc phạm nhau, bản thân anh M không chăm lo làm ăn và thường xuyên ghen tuông, nghi ngờ chị H. Mặc dù chị H đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng vẫn không có kết quả. Từ đó chị H, anh M không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc ghì nhau, hiện nay chị H không còn tình cảm với anh M nên đề nghị giải quyết ly hôn. Bản thân anh M sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng anh M không tham gia, không có ý kiến điều đó chứng tỏ anh M cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị H.

Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị H được ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Quá trình giải quyết vụ án chị H có nguyện vọng được quyền nuôi con Tạ Trần Kim N, sinh ngày 23/8/2023 trong khi anh M không có ý kiến gì. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi con. Bản thân cháu N là nữ, hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, ngoài ra kể từ thời điểm sinh đến nay cháu N do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt cần giao các con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Chị H không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng, nên không xem xét trong vụ án này.

[7] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

[8] Chị H phải chịu án phí ly hôn.

[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Tạ Quang M.

    Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 29/9/2023, số 70/2023 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Tạ Trần Kim N, sinh ngày 23/8/2023.

    Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh M.

    Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004702, ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Vũ Hoà, huyện Đức Linh;
  • - C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 136/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hạnh-Tạ Quang Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger