Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 136/2024/DS-ST

Ngày 06-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng mua

bán điện

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Gấm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Mỹ Dung;

2. Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2024/TLST - DS ngày 05 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 446/2024/QĐXXST- DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 393/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng Công ty Đ

Địa chỉ trụ sở: đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Trung T (Giấy ủy quyền số: 284/UQ-PCBP ngày 01/02/2024). (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: đường K, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương Mại D

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn C (vắng mặt).

Địa chỉ sử dụng điện: đường G, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung T trình bày:

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D có ký hợp đồng mua bán điện số 17/003192 với Tổng Công ty Đ. Mục đích ngoài sinh hoạt tại địa chỉ đường G, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình sử dụng điện, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D đã nợ tiền điện không thanh toán cho Tổng Công ty Đ với số tiền là 10.000.749 đồng.

Nay yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D trả cho Tổng Công ty Đ số tiền 10.000.749 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay:

Ông Nguyễn Trung T là người đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty Đ có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu cầu khởi kiện.

Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và đề nghị:

Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; vụ án thụ lý đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 và giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu theo quy định khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền điện phát sinh từ hợp đồng mua bán điện nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán điện. Bị đơn có địa chỉ sử dụng điện tại đường G, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên cần cứ điểm a khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về tố tụng: người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do, ông Nguyễn Trung T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. Nội dung tranh chấp:
    • [3.1] Xét yêu cầu của Tổng Công ty Đ (sau đây gọi là Công ty Điện lực) buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D (sau đây gọi là Công ty D) thanh toán tiền điện với số tiền 10.000.749 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

    Căn cứ Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sản xuất số 17/003192, Hóa đơn giá trị gia tăng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D có ký kết hợp đồng mua bán điện với Tổng Công ty Đ. Trong quá trình sử dụng điện Công ty D đã sử dụng 7.077kWh, từ tháng 07/01/2020 đến ngày 06/02/2020, kỳ hóa đơn tháng 01/2022, mã khách hàng PE06000293647. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì Công ty D phải thanh toán tiền điện trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày thông báo lần đầu, nhưng cho đến nay Công ty D chưa thanh toán, đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, nên Công ty điện lực khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 10.000.749 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Điện lực được sửa đổi, bổ sung năm 2012: “Bên mua điện phải thanh toán đủ và đúng hạn số tiền diện ghi trong hóa đơn cho bên bán điện theo biểu giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tiền điện được thanh toán tại trụ sở, nơi ở của bên mua điện hoặc tại địa điểm thuận lợi do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện”. Do đó, yêu cầu của Tổng Công ty Đ buộc Công ty Cường Dương trả số tiền 10.000.749 đồng Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.

    • [3.2] Về tiền lãi: nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Xét, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
  5. Về án phí: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho Tổng Công ty Đ. Tổng Công ty Đ không phải chịu án phí, được hoàn lại tiền án phí tạm nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 227, Điều 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 Luật Điện lực năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2012;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Đ.

    Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D có trách nhiệm thanh toán cho Tổng Công ty Đ số tiền 10.000.749 đồng (mười triệu bảy trăm bốn mươi chín đồng), phát sinh theo Hợp đồng mua bán điện số 17/003192 ngày 03/10/2017 (Hóa đơn giá trị gia tăng số 2953635, ký hiệu AA/22E, kỳ hóa đơn Tháng 1/2022).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại D phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Tổng Công ty Đ số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 12033 ngày 07/3/2024 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Bình Tân;
  • - CCTHADS quận Bình Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Gấm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán điện

  • Số bản án: 136/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán điện
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 136/2024/DSST ngày 06/9/2024 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán điện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger