|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
|
|
Bản án số: 136/2024/KDTM-ST Ngày: 28/6/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Bích Ngọc
- Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân Quận 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 248/2023/TLST-KDTM ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6906/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 8897/2024/QĐST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Tầng H V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Trung T hoặc ông Bùi Văn Q
Địa chỉ: Tầng H V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền số 30/2023/EIB/UQ-TGĐ ngày 14/02/2023).
Địa chỉ: số F N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Bùi Trung K, sinh năm 1980
Địa chỉ: số D M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1984
Địa chỉ: số E Đường A, tổ H, khu phố 1, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1986
Địa chỉ: số E Đường A, tổ H, khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X là ông Nguyễn Trung T có mặt. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Bùi Trung K vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại cổ phần X có ông Nguyễn Trung T là người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh T2 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng X) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 (sau đây gọi tắt là Công ty K1) ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018. Theo đó, Ngân hàng X cấp tín dụng hạn mức cho Công ty K1 là 8.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh được quy định cụ thể trong Khế ước nhận nợ; Thời hạn cho vay của từng lần nhận nợ cụ thể: Không quá 06 tháng và được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ; Lãi suất cho vay áp dụng cho từng lần giải ngân: theo quy định tại Khế ước nhận nợ; Chu kỳ thay đổi lãi suất: 01 tháng một lần; Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng X đã giải ngân cho Công ty K1 số tiền 8.000.000.000 đồng theo các Khế ước nhận nợ sau:
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003552 ngày 11/12/2019, cụ thể: Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 11/12/2019; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019, cụ thể: Số tiền vay: 2.050.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 12/12/2019; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020, cụ thể: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 21/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000250 ngày 22/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 600.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 22/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000256 ngày 30/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 1.950.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 30/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,7%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000258 ngày 31/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 400.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 31/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,7%/năm.
Tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nêu trên là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất, tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018. Tài sản bảo đảm được bên thế chấp là ông Nguyễn Minh T1, bà Võ Thị Mỹ D và bên nhận thế chấp là Ngân hàng X ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 66/2018/EIB.TSN/KHDN/BLTS ngày 01/8/2018, số công chứng 18536, quyển số: 08 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 01/8/2018 lập tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 66/2018/EIB.TSB/KHDN/BLTS/PL01 ngày 13/12/2018, số công chứng 29101, quyển số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 13/12/2018 lập tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và được chứng nhận ngày 02/8/2018.
Tính đến ngày 28/6/2024, Công ty K1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng Xuất nhập khẩu số tiền lãi là 74.916.137 đồng đối với từng khế ước nhận nợ như sau: Khế ước nhận nợ số 2102- LDS-190003552 ngày 11/12/2019: Thanh toán số tiền lãi là 31.309.883 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019: Thanh toán số tiền lãi là 31.030.912 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020: Thanh toán số tiền lãi là 12.575.342 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, các khoản nợ đã quá hạn từ ngày 11/6/2020.
Công ty K1, ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D đã ký với Ngân hàng X thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp ngày 08/6/2020 và Hợp đồng ủy quyền ngày 09/6/2020, theo đó Công ty K1, ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D đồng ý ủy quyền cho Ngân hàng X thực hiện việc bán đấu giá tài sản thông qua tổ chức bán đấu giá do Ngân hàng X, khách hàng cam kết thanh toán đầy đủ mọi chi phí phát sinh liên quan đến việc bán đấu giá, nghĩa vụ thuế liên quan đến việc bán đấu giá, nghĩa vụ thuế liên quan đến việc bán tài sản thế chấp và các chi phí hợp lệ khác. Tuy nhiên sau 08 lần thực hiện bán đấu giá từ thời điểm 18/8/2020 đến nay vẫn không thành công. Ngân hàng X đã nhiều lần nhắc nhở nhưng Công ty K1 vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng X.
Tính đến ngày 28/6/2024, Công ty K1 còn nợ Ngân hàng X tổng cộng là 12.475.362.235 đồng theo các Khế ước nhận nợ như sau:
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003552 ngày 11/12/2019: Số tiền còn nợ là 3.109.741.993 đồng (trong đó nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 53.958.595 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.033.273.973 đồng, lãi chậm trả lãi: 22.509.425 đồng).
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019: Số tiền còn nợ là 3.188.252.574 đồng (trong đó nợ gốc: 2.050.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.332.877 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.058.389.726 đồng, lãi chậm trả lãi: 23.529.971 đồng).
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020: Số tiền còn nợ là 1.544.706.416 đồng (trong đó nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 29.808.220 đồng, nợ lãi quá hạn: 502.664.384 đồng, lãi chậm trả lãi: 12.233.812 đồng).
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000250 ngày 22/01/2020: Số tiền còn nợ là 937.346.022 đồng (trong đó nợ gốc: 600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 25.430.137 đồng, nợ lãi quá hạn: 301.389.041 đồng, lãi chậm trả lãi: 10.526.844 đồng).
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000256 ngày 30/01/2020: Số tiền còn nợ là 3.066.447.391 đồng (trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 84.592.603 đồng, nợ lãi quá hạn: 996.984.247 đồng, lãi chậm trả lãi: 34.870.541 đồng).
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000258 ngày 31/01/2020: Số tiền còn nợ là 628.867.839 đồng (trong đó nợ gốc: 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 17.352.329 đồng, nợ lãi quá hạn: 204.366.575 đồng, lãi chậm trả lãi: 7.148.935 đồng).
Chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá gồm: Chi phí đấu giá 3.000.000 đồng/lần đấu giá x 8 lần là 24.000.000 đồng; Thuế giá trị gia tăng của chi phí đấu giá: 24.000.000 đồng x 8% là 1.920.000 đồng; Tổng cộng chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá là 25.920.000 đồng.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018 và các khế ước nhận nợ tính đến ngày xét xử (ngày 28/6/2024) là 12.475.362.235 đồng (trong đó nợ gốc: 8.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 267.474.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.097.067.946 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 110.819.528 đồng).
Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ đã ký kết.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018.
Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ thanh toán nợ thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Ngày 25/6/2024, nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 thanh toán chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá với số tiền là 25.920.000 đồng (trong đó chi phí đấu giá 08 lần là 24.000.000 đồng, thuế giá trị gia tăng là 1.920.000 đồng).
* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Tòa án đã thực hiện việc đăng thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh T1 trình bày:
Tài sản của vợ chồng ông là quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018, được vợ chồng ông sử dụng để thế chấp cho khoản vay của Công ty K1.
Nay Ngân hàng Xuất nhập khẩu khởi kiện, ông và bà Võ Thị Mỹ D đồng ý bàn giao tài sản bảo đảm nêu trên cho Ngân hàng X để thu hồi khoản nợ của Công ty K1 theo quy định pháp luật.
Ông xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị Mỹ D trình bày:
Tài sản của vợ chồng bà là quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018, được vợ chồng bà sử dụng để thế chấp cho khoản vạy của Công ty K1.
Nay Ngân hàng Xuất nhập khẩu khởi kiện, bà và ông Nguyễn Minh T1 đồng ý bàn giao tài sản bảo đảm nêu trên cho Ngân hàng X để thu hồi khoản nợ của Công ty K1 theo quy định pháp luật.
Bà xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Ngân hàng Thương mại cổ phần X và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018 và các Khế ước nhận nợ, theo đó Ngân hàng X cấp tín dụng cho Công ty K1 là 8.000.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nêu trên là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng X đã chuyển toàn bộ khoản nợ sang nợ quá hạn. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá, do đó đề nghị đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng tín dụng, phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 có địa chỉ trụ sở tại Quận A. Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Bị đơn, người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D có đơn xin vắng mặt. Do đó căn cứ quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh T2 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng X) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 (sau đây gọi tắt là Công ty K1) ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018, hạn mức cấp tín dụng là 8.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh được quy định cụ thể trong Khế ước nhận nợ; Thời hạn cho vay của từng lần nhận nợ cụ thể: Không quá 06 tháng và được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ.
[4] Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng X đã giải ngân và Công ty K1 đã nhận nợ với tổng số tiền 8.000.000.000 đồng theo các Khế ước nhận nợ sau:
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003552 ngày 11/12/2019, cụ thể: Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 11/12/2019; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019, cụ thể: Số tiền vay: 2.050.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 12/12/2019; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020, cụ thể: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 21/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000250 ngày 22/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 600.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 22/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000256 ngày 30/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 1.950.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 30/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,7%/năm.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000258 ngày 31/01/2020, cụ thể: Số tiền vay 400.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày 31/01/2020; Lãi suất cho vay: 8,7%/năm.
Như vậy, hợp đồng tín dụng được hai bên tự nguyện ký kết, đảm bảo quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực, ràng buộc quyền và nghĩa vụ của hai bên.
[5] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền nợ gốc, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, các khoản nợ đã quá hạn từ ngày 11/6/2020. Tính đến ngày 28/6/2024, Công ty K1 còn nợ Ngân hàng X số tiền nợ gốc theo từng Khế ước nhận nợ như sau: Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003552 ngày 11/12/2019: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019: Nợ gốc: 2.050.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000250 ngày 22/01/2020: Nợ gốc: 600.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000256 ngày 30/01/2020: Nợ gốc: 1.950.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000258 ngày 31/01/2020: Nợ gốc: 400.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc là 8.000.000.000 đồng.
Do đó căn cứ Điều 11 của Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018, mục 9 của các Khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết và quy định tại Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 8.000.000.000 đồng.
[6] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính đến ngày xét xử, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018 và mục 6, mục 7 của các Khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết, lãi suất do các bên thỏa thuận như sau: Lãi suất cho vay áp dụng cho từng lần giải ngân: theo quy định tại Khế ước nhận nợ; Chu kỳ thay đổi lãi suất: 01 tháng một lần; Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm.
Thỏa thuận của hai bên về lãi suất trong hợp đồng tín dụng là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó, nguyên đơn yêu cầu tiền lãi tính ngày xét xử theo từng khế ước nhận nợ như sau:
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003552 ngày 11/12/2019: Nợ lãi trong hạn: 53.958.595 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.033.273.973 đồng, lãi chậm trả lãi: 22.509.425 đồng, tổng cộng là 1.109.741.993 đồng.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-190003566 ngày 12/12/2019: Nợ lãi trong hạn: 56.332.877 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.058.389.726 đồng, lãi chậm trả lãi: 23.529.971 đồng, tổng cộng là 1.138.252.574 đồng.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000246 ngày 21/01/2020: Nợ lãi trong hạn: 29.808.220 đồng, nợ lãi quá hạn: 502.664.384 đồng, lãi chậm trả lãi: 12.233.812 đồng, tổng cộng là 544.706.416 đồng.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000250 ngày 22/01/2020: Nợ lãi trong hạn: 25.430.137 đồng, nợ lãi quá hạn: 301.389.041 đồng, lãi chậm trả lãi: 10.526.844 đồng, tổng cộng là 337.346.022 đồng.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000256 ngày 30/01/2020: Nợ lãi trong hạn: 84.592.603 đồng, nợ lãi quá hạn: 996.984.247 đồng, lãi chậm trả lãi: 34.870.541 đồng, tổng cộng là 1.116.447.391 đồng.
- Khế ước nhận nợ số 2102-LDS-200000258 ngày 31/01/2020: Nợ lãi trong hạn: 17.352.329 đồng, nợ lãi quá hạn: 204.366.575 đồng, lãi chậm trả lãi: 7.148.935 đồng, tổng cộng là 228.867.839 đồng.
Tổng cộng số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu là 4.475.362.235 đồng.
[8] Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì đối với hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01/01/2017 áp dụng các khoản lãi như sau: lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi.
Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên chấp nhận.
Do đó, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 4.475.362.235 đồng (trong đó lãi trong hạn là 267.474.761 đồng, lãi quá hạn là 4.097.067.946 đồng, lãi chậm trả lãi là 110.819.528 đồng).
[9] Bị đơn có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[10] Bị đơn tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ đã giao kết.
[11] Về tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nêu trên là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018; Tài sản bảo đảm được bên thế chấp là ông Nguyễn Minh T1, bà Võ Thị Mỹ D và bên nhận thế chấp là Ngân hàng X ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 66/2018/EIB.TSN/KHDN/BLTS ngày 01/8/2018, số công chứng 18536, quyển số: 08 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 01/8/2018 lập tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 66/2018/EIB.TSB/KHDN/BLTS/PL01 ngày 13/12/2018, số công chứng 29101, quyển số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 13/12/2018 lập tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 02/8/2018.
Tài sản bảo đảm đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2024 theo quy định pháp luật.
[12] Xét thấy các bên đã lập Hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định tại các Điều 298, Điều 317, Điều 318, Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực.
[13] Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018, là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp mà các bên đã giao kết và quy định tại các Điều 303, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận.
[14] Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên không đủ trả hết tổng số tiền nợ cho nguyên đơn thì bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[15] Trường hợp bị đơn thanh toán xong toàn bộ nợ gốc, lãi cho nguyên đơn thì nguyên đơn trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm nợ vay nói trên cho ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D.
[16] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng và yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, do đó bị đơn có trách nhiệm hoàn lại nguyên đơn số tiền này.
[17] Ngày 25/6/2024, nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 thanh toán chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá với số tiền là 25.920.000 đồng (trong đó chi phí đấu giá 08 lần là 24.000.000 đồng, thuế giá trị gia tăng là 1.920.000 đồng). Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[18] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228; Khoản 2 Điều 244; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95, khoản 4 Điều 161 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 298, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 322, Điều 323, Điều 335, Điều 336, Điều 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X về việc:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số LAV180050195/2102 ngày 13/12/2018 và các khế ước nhận nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 12.475.362.235 đồng (trong đó nợ gốc: 8.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 267.474.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.097.067.946 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 110.819.528 đồng).
Thời hạn thanh toán: trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ đã giao kết.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 340331, số vào sổ cấp GCN: CH 00687 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2014, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Minh T1 ngày 13/4/2018.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên không đủ trả hết tổng số tiền nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 thanh toán xong toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm nợ vay là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 410,2m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nói trên cho ông Nguyễn Minh T1 và bà Võ Thị Mỹ D.
Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Đình chỉ đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X về việc:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 thanh toán chi phí phát sinh liên quan đến việc đấu giá với số tiền là 25.920.000 đồng (trong đó chi phí đấu giá 08 lần là 24.000.000 đồng, thuế giá trị gia tăng là 1.920.000 đồng).
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 120.475.362 đồng.
H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.468.264 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044834 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Nguyễn Mai Phương |
Bản án số 136/2024/KDTM-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 136/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
