Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 136/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 05 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chánh.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 1 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/ QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trần P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trần P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 05/1/2021. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Nay bà T nhận thấy không còn tình cảm với ông P, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T đề nghị Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông P.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông P có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 21/12/2021. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu A, tạm thời không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi cháu A.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà T xin xét xử vắng mặt do bận công việc.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Trần P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không tham gia tố tụng tại Toà án.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 21/12/2021 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông P không phải cấp dưỡng nuôi cháu A.

Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông P nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông P nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Nguyễn Trần P. Căn cứ kết quả xác minh ngày 17/01/2024 do Công an phường H, thành phố B cung cấp thể hiện ông P có nơi cư trú tại phường H, thành phố B tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do; nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T, ông P.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Trần P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 05/01/2021, nên là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Theo trình bày của bà T thì quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Nay bà T không còn tình cảm với ông P, mâu thuẫn không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông P.

Tại văn bản xác minh ngày 26/02/2024, địa phương cung cấp không nắm được thông tin mâu thuẫn giữa bà T, ông P. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông P đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia các phiên tòa nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do chứng tỏ ông P bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà T. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T, ông P vào tình trạng trầm trọng. Ông P không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà T xin ly hôn với ông P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông P có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 21/12/2021. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu A, tạm thời không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi cháu A. Cháu A hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc trực tiếp của bà T. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định.

Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu A nên tạm thời ông P không phải cấp dưỡng nuôi cháu A. Ông P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông P nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông P nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà thì thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Trần P.
    • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 21/12/2021 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Trần P không phải cấp dưỡng nuôi cháu A.
    • Ông P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
    • - Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
    • - Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu số 0001859 ngày 25 tháng 12 năm 2023 (đã nộp xong).
  3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hoà;
  • - UBND phường Hố Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 136/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Tâm ly hôn với Nguyễn Trần Phú
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger