Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TS

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày 25/04/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TS, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ph.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức H và ông Nguyễn Đăng Th;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng M - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh A - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 04 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 02/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST- HS ngày 12/04/2024. Địa điểm mở phiên toà: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: đường Lê Quang Đạo, phường ĐN, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh và Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

Vụ án được xét xử trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu:

Điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh gồm: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng khác và bà Nguyễn Hoàng Anh, cán bộ tin học.

Điểm cầu thành phần là phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh gồm: Bị cáo Lương Văn T và cán bộ tin học của Trại tạm giam.

Đối với bị cáo: Lương Văn T - Sinh năm 1994 (tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT: thôn HL, xã NP, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn B (Đã chết) và bà Lang Thị C, sinh năm 1975; Vợ: Lang Thị L, sinh năm 1999, đã ly hôn; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 27/HS-ST ngày 22/6/2022 Tòa án nhân dân huyện TX, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Lương Văn T 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 12/5/2023 chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phòng xét xử).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2023 tại khu phố DS, phường PC, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường PC kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lương Văn T, sinh năm 1994, trú tại: thôn HL, xã NP, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi tàng trữ phép 01 gói ma túy để sử dụng cho bản thân. Ngay sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: Thu tại túi áo khoác phía trước bên trái của T đang mặc 01 gói nhỏ bọc bằng nửa tờ tiền mệnh giá 1000 đồng, bên trong là lớp giấy màu xanh viền trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định pháp luật.

Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn T.

Tại Kết luận giám định số 111/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu xanh viền trắng (ngoài cùng được bọc bằng nửa tờ tiền mệnh giá 1000 đồng) có khối lượng là 0,1563 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine".

Quá trình điều tra Lương Văn T khai nhận: Lương Văn T sử dụng chất ma túy từ năm 2019 đến nay. Khoảng 11 giờ ngày 19/12/2023, T đi bộ ở khu phố AS, phường ĐB, thành phố TS để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Sau đó, T gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy được 01 gói nhỏ bọc bằng nửa tờ tiền mệnh giá 1000 đồng. T cầm gói ma túy để vào túi áo khoác phía trước bên trái của T đang mặc, đi bộ về hướng phường PC, thành phố TS tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ ở khu phố DS, phường PC, thành phố TS thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra, ngày 18/12/2023, T xin được một ít ma túy Heroine từ 01 người đàn ông không quen biết tại phường ĐB, thành phố TS và đã sử dụng hết.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSTS ngày 02/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh để xét xử bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Lương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra là đúng. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 17 tháng tù đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dâu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại theo Kết luận giám định số 111/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2023 tại khu phố DS, phường PC, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường PC kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lương Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1563 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trước khi bị bắt, bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cân áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/12/2023 của T, ngày 04/3/2024, Công an thành phố TS đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.

Người thanh niên đã bán ma túy cho T ngày 19/12/2023 và người đàn ông đã cho T ma túy ngày 18/12/2023, do T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TS chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại theo Kết luận giám định số 111/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

- TAND, Viện KSND tỉnh Bắc Ninh;

- VKSND thành phố TS;

- Công an thành phố TS;

- Chi cục THADS thành phố TS;

- Những người tham gia tố tụng;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;

- Cơ quan THA – HS Công an tỉnh Bắc Ninh;

- Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Ph

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TS, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TS, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger