Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 136/2024/HS- ST

Ngày: 15/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Linh Thị Ngọc Thạch.

2. Ông Phạm Quang Nghĩa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Văn- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132 /2024/QĐXXST-HS ngày 18/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn Đ; Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam.

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: số G, khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.

Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.

Họ và tên cha: Đoàn Văn K (đã chết).

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1955. Hiện đang sinh sống tại khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 29/12/2005, chấp hành xong án phạt tù, hiện đã được xóa án tích.

Bị cáo Đoàn Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Hữu T, sinh năm 1995.(Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955.(Có mặt)

Địa chỉ: khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

* Người chứng kiến:

Ông Trần Minh T1, sinh năm 2003. (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố G, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 50 ngày 25/12/2023, qua tin báo của quần chúng nhân dân, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an huyện X phối hợp với Công an thị trấn G tiến hành kiểm tra tại nhà của Đoàn Văn Đ thuộc khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai, phát hiện trong nhà có 02 đối tượng gồm: Đoàn Văn ĐHuỳnh Hữu T. Qua kiểm tra tại phòng ngủ của Đ phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (chai nhựa, tại nắp chai nhựa được đục 2 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn nỏ thuỷ tinh) còn bám dính tinh thể ở trong nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly; Giữa hai tấm nệm có 01 gói nylon (dạng túi Zip), kích thước (04x08)cm có chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc và niêm phong tang vật. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma tuý (qua mẫu nước tiểu) đối với Đoàn Văn ĐHuỳnh Hữu T có kết quả dương tính với ma túy đá (Methamphetamine).

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 08 giờ ngày 25/12/2023, Đ đang ngủ trong nhà (phòng ngủ số 03) thuộc khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì có T đến nhà. T đi vào phòng ngủ của Đ và hỏi Đ “có đồ không” có nghĩa là hỏi có ma tuý không thì Đ trả lời “có” và chỉ vị trí cho T ma tuý ở dưới tấm nệm Đ đang nằm. Sau đó, T lấy chai nhựa có sẵn trong phòng ngủ rồi đục lỗ và lấy nỏ thuỷ tinh của Đ để trong góc phòng ngủ chế tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá, sau khi T chế tạo xong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá thì T đến tại vị trí dưới nệm mà Đ chỉ lấy gói ma tuý trút một phần vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và sử dụng một mình. Trong lúc T sử dụng ma tuý thì T nói với Đ “anh Đ dậy nè” có nghĩa là T rủ Đ sử dụng ma tuý, Đ trả lời “mệt lắm, tao ngủ”, rồi Thạch tự sử dụng ma tuý một mình. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện 01 bộ dụng cụ hút ma túy đá còn bám dính tinh thể ở trong nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly; giữa hai nệm có 01 gói nylon (dạng túi Zip), có chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản sự việc và niêm phong tang vật.

* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (chai nhựa, có gắn nắp chai, tại nắp chai có đục 2 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn nỏ thuỷ tinh có bám dính tỉnh thể), Cơ quan Công an đã tiến hành lấy nỏ thuỷ tinh ra, bỏ vào phong bì niêm phong, kí hiệu M1;
  • - 01 (một) gói nylon (dạng túi Zip), kích thước (04x08)cm có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, niêm phong, kí hiệu M2;
  • - 01 (một) quẹt gas;
  • - 01 (một) kéo kim loại;
  • - 01 (một) cân tiểu ly.

* Tại Bản kết luận giám định số 390/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C, kết luận:

  • - Mẫu M1 được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, dạng vết rất ít không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu M2 được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4405 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 10/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Đoàn Văn Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và đề nghị:

  • + Tình tiết tăng nặng: Không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không biết chữ nên phần nào cũng bị hạn chế về việc nhận thức pháp luật. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

* Đối với người đàn ông có tên “Châu già”, Đoàn Văn Đ khai đã cho Đ ma túy để sử dụng, do không xác minh được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.

* Đối với Huỳnh Hữu T, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định T có hành vi đồng phạm với Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử phạt hành chính T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là phù hợp.

Căn cứ khoản 1, Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn Đ mức án từ: 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn Đ mức án từ: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù.

-Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 phong bì được niêm phong số 390/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (chai nhựa, có gắn nắp chai, tại nắp chai có đục 2 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa); 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly.

Hình phạt bổ sung: Không.

Bị cáo Đoàn Văn Đ nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Xét thấy tại phiên tòa Đoàn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào ngày 25/12/2023, tại nhà của Đoàn Văn Đ thuộc khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Đoàn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4405 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Đồng thời, Đoàn Văn Đ đã có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho Huỳnh Hữu T sử dụng.

* Tại Bản kết luận giám định số 390/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C, kết luận:

  • - Mẫu M1 được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, dạng vết rất ít không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu M2 được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4405 gam.

H1 lại 01 phong bì được niêm phong số 390/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Văn Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1, Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Vì vậy bản Cáo trạng số: 132/CT-VKSXL-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố, đề nghị xét xử bị cáo về tội danh, điều luật quy định như trên là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và có căn cứ pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, việc bị cáo tổ chức và tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó, cần áp hình phạt nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không biết chữ nên phần nào cũng bị hạn chế về việc nhận thức pháp luật . Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không.

[7] Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì được niêm phong số 390/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (chai nhựa, có gắn nắp chai, tại nắp chai có đục 2 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa); 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly.

[8] Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí:

Buộc bị cáo Đoàn Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tuyên bố:

Bị cáo Đoàn Văn Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn Đ mức án: 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tuyên bố:

Bị cáo Đoàn Văn Đ, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn Đ mức án: 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn Đ 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giam là ngày 01/3/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Về vật chứng vụ án:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 390/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (chai nhựa, có gắn nắp chai, tại nắp chai có đục 2 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa); 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

* Về án phí:

Buộc bị cáo Đoàn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS; THA; AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS- ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 136/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Đ - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger