Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày 13-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Hồng.
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quang L, sinh năm 1999.

Quê quán: huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi tạm trú: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Văn C, sinh năm 1967 và bà Đường Thị T, sinh năm 1969.

Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số74 ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt tại phiên tòa)

*Bị hại: Ông Trần Viết K, sinh năm 1940; Địa chỉ: Số nhà A, làn C, đường T, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đường Thị T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

(Vắng mặt)

*Người làm chứng: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ngõ A, đường B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang L, sinh năm 1999, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thuê trọ tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 15 giờ ngày 20/11/2023, Trần Quang L điều khiển xe mô tô Honda Wave không biển kiểm soát đi từ thành phố B qua cầu M rồi đi trên đường T để đến phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Xe mô tô này mang biển kiểm soát 12H1-494.14 đăng ký mang tên Trần Quang L nhưng biển kiểm soát đã bị rơi khỏi xe và Linh chưa lắp lại. Theo L khai đi với tốc độ khoảng 50km/h. Khi L điều khiển xe đi gần đến đoạn cây xăng trên đường T thuộc tổ dân phố số D, phường M, thành phố B thì lúc này có ông Trần Viết K, sinh năm 1940, trú tại số nhà A, làn C, đường T, phường M, thành phố B điều khiển xe đạp điện từ đường gom cạnh cây xăng (phía bên phải đường theo chiều đi của L) đi ra đường T để đi sang đường hướng lên cầu M; vị trí xe của ông K cách xe của L đang đi khoảng hơn 60m. Khi ông K đi ra đến mép đường T thì L quan sát thấy ông K dừng xe lại nên vẫn giữ nguyên tốc độ di chuyển. Khi xe của L cách xe của ông K khoảng 38m thì ông K di chuyển chậm sang đường. Do L điều khiển xe không đảm bảo tốc độ nên phần đầu xe mô tô do L điều khiển đã đâm vào phần bánh trước bên trái xe đạp điện do ông K điều khiển. Hậu quả làm ông K bị ngã ra đường và bị thương nặng được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của L và ông K đều là 0.000mg/l.

*Kết quả khám nghiệm hiện trường dựng lại: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường T thuộc tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường rộng 21m được trải nhựa phẳng có hai chiều xe chạy được phân chia bằng vạch sơn màu vàng, nét đứt. Mỗi chiều đường có mặt đường rộng 10,5m.

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là chiều đường hướng từ cầu M đến đường T có 03 làn đường xe chạy tính từ trái qua phải theo hướng từ cầu M đến đường T lần lượt có mặt đường rộng (3,8+3,5+3,2)m được phân chia bằng vạch kẻ sơn nét đứt, màu trắng.

Chọn cột đèn đường số CST1-41 bên mép phải đường và chọn mép phải đường Thân Nhân Trung tính theo hướng từ cầu M đến đường T lần lượt làm điểm mốc chuẩn và mép chuẩn để mô tả hiện trường.

Vị trí số 1 là xe đạp điện đổ nghiêng trái trên mặt đường. Đầu xe chếch hướng Tây Nam đuôi xe chếch hướng T, đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước, sau xe cách mép chuẩn lần lượt là (1,9 và 0,75)m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh sau xe cách điểm mốc chuẩn là 1,6m.

Vị trí số 2 là xe mô tô không đeo biển số có số máy 049264 đỗ trên mặt đường. Đầu xe chếch hướng Đông Bắc, đuôi xe chếch hướng Tây Nam, đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước sau xe cách mép chuẩn lần lượt là (0,65x1,55)m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước xe cách tâm đầu trục bánh trước xe đạp điện là 12,4m.

Vị trí số 3 là vết cày xước trên mặt đường dạng nét đứt trên mặt đường có kích thước (13,9x0,55)m có chiều hướng từ Đ đến T kéo dài đến vị trí giữa thân xe đạp điện, đo khoảng cách từ đầu vết cách mép chuẩn là 4,1m.

Vị trí số 4 là vết mài trượt màu đen (nghi cao su) trên mặt đường có chiều hướng từ Đông sang Tâykích thước (1,1x0,2)m; đo khoảng cách tâm đầu và cuối vết cách mép chuẩn lần lượt là (4,2 và 4,6)m. Đo khoảng cách tâm cuối vết (4) cách tâm đầu vết (3) là 0,5m.

Vị trí số 5 là vết cày xước trên mặt đường có dạng nét đứt và có chiều hướng từ Đ sang T có kích thước (26x1,2)m. Đo khoảng cách tâm đầu và tâm cuối vết cách mép chuẩn lần lượt là (5,8 và 11)m. Đo khoảng cách tâm đầu vết (5) cách tâm cuối vết (4) là 7,35m.

Vị trí số 6 là đám mảnh vỡ trên mặt đường có kích thước (20,3x4)m. Đo khoảng cách từ tâm vết cách mép chuẩn và tâm đầu vết (5) lần lượt là (2 và 4,75)m.

* Khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu HondaWave không biển số:

Ốp nhựa phía trên đầu xe bên phải bật chốt cố định: Dập vỡ nhựa tổng kích thước (22x6)cm. Đầu ngoài tay nắm trái có vết mài sát kim loại kích thước (1,5x1)cm. Mặt ngoài cách yếm trái tại vị trí thấp nhất cách đất 62cm có vết mài sát nhựa, nứt vỡ nhựa tổng kích thước (26x9)cm.

Mặt trái vành bánh trước tại ví trí đối diện chân van có vết cong chùn kim loại hướng từ ngoài vào trong kích thước (18x2,5)cm. Mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái tại vị trí chân van có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (24x3)cm. Chắn bùn trước bánh trước có nhiều vết mài sát dập vỡ nhựa tổng kích thước (35x18)cm.Vỡ khuyết chắn bùn sau bánh trước.

Cạnh ngoài cần số có vết mài sát kim loại kích thước (1,5x0,2)cm. Để chân trước bên trái cong chùn hướng từ trước về sau, đầu ngoài có vết mài sát cao su, mài sát kim loại kích thước (2x2,5)cm. Mặt ngoài kính nhựa đèn xi nhan trước bên trái có vết mài sát nhựa kích thước (3,5x1)cm.

Mặt bên phải vành bánh trước có vết cong chùn kim loại hướng từ ngoài vào trong kích thước (14x5)cm, tâm vết ngay vị trí chân van. Đầu ngoài trục bánh trước bên phải có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi sơn kích thước (1x0,5)cm. Càng giảm sóc bánh trước bên phải tại vị trí thấp nhất 23cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi sơn, kích thước (8x4,5)cm.

Tay phanh phải cong chùn hướng từ dưới lên trên. Mặt phải vành bánh trước tại vị trí gần nhất cách chân van có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi sơn kích thước (7x3)cm.

Mặt ngoài trục của bánh trước bên phải có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen, nghi sơn, kích thước (4x4)cm.

* Khám nghiệm xe đạp điện:

Giỏ xe bật rời khỏi vị trí cố định. Chắn bùn trước bánh trước cong chùn hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước (13x10)cm.

Mặt trái vành bánh trước tại vị trí gần nhất cách chân van 13cm, ngược chiều kim loại đồng hồ có vết mài sát khuyết kim loại, mài sát cao su sạch bụi tẩy trên diện (14x4)cm.

Cây giảm sóc trước bên trái tại vị trí thấp nhất cách đất 23cm có vết bẹp móp kim loại hướng từ ngoài vào trong kích thước (4x2,5)cm. Gạch dưới giá đỡ xe có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi sơn kích thước (13x5)cm.

Vỡ khuyết kính nhựa đèn xi nhan trước bên trái, cụm đèn xi nhan phải bật khỏi vị trí cố định. Khung xe cong vênh bẹp móp vặn tự nhiên đứt gãy. Vỡ khuyết ốp nhựa bảo vệ bình điện.

Khung xe phía ngoài bình điện bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (3,5x1,5)cm. Vỡ khuyết ốp nhựa bảo vệ trục bàn đạp bên trái. Cạnh trái yếm xe có vết mài sát kích thước (20x4)cm.

Về thương tích của ông Trần Viết K:

Ông K bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, điều trị.

Bệnh án số 2311204009 ngày 08/12/2023 của Bệnh viện Đ1 xác nhận: Ông K vào viện ngày 20/11/2023, ra viện ngày 29/11/2023. Tình trạng thương tích khi vào viện: Hình ảnh gãycung trước xương sườn 4,5 di lệch ít; hình ảnh gãy cổ xương đùi trái có di lệch; gãy xương phức tạp 1/3 trên hai xương cẳng chân phải.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của ông Trần Viết K. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1974B ngày 21/12/2023 của Trung tâm Pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận:

“1. Các kết quả chính qua giám định:

Kiểm tra ngực phải không thấy thương tích: 0%

Thương tích gãy xương sườn 4, 5 bên phải + Phiếu chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Gãy cung trước các xương sườn IV, V phải đã can xương: 4%.

Thương tích vết sẹo mổ mặt ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước trung bình + Vết sẹo nông, đầu trên vết sẹo mổ đùi trái kích thước trung bình + Vết sẹo dẫn lưu đầu dưới vết sẹo mổ đùi trái + Hai vết sẹo nhỏ cố định phẫu thuật mặt trước 1/3 trên đùi trái + X-quang: Hình ảnh gãy cổ xương đùi trái đã phẫu thuật thay chỏm: 38%.

Thương tích vết sẹo kích thước trung bình mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái: 2%.

Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ mặt ngoài gối phải: 1%.

Thương tích vết sẹo trung bình mặt trong gối phải kích thước (4x1)cm: 2%.

Thương tích vết sẹo nhỏ mặt trong gối phải kích thước (1,5x0,5)cm: 1%.

Thương tích vết sẹo mổ mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải kích thước lớn + X-quang: Gãy phức tạp 1/3 trên hai xương cẳng chân phải, đã kết hợp xương chày bằng nẹp vít, trục thẳng: 22%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải kích thước lớn: 3%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo cổ chân phải kích thước (0,5x0,3)cm: 1%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo cổ chân phải kích thước (1x0,2)cm: 1%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo cổ chân phải kích thước (0,7x0,3)cm: 1%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo cổ chân phải kích thước (0,5x0,5)cm: 1%.

Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo mu chân phải kích thước trung bình: 2%.

Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ mu bàn tay phải: 1%.

Thương tích vết sẹo kích thước trung bình mông phải: 2%.

Thương tích ổ loét da kích thước lớn mông trái – mỏm cùng cụt: 3%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Viết K tại thời điểm giám định là: 62% (Sáu hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng và lực gây thương tích.

Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Trung tâm Pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B giải thích phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm thương tích của ông Trần Viết K. Tại Công văn số 42 ngày 21/6/2024 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh B giải thích: Cách tính tỷ lệ thương tích đối với ông Trần Viết K căn cứ vào phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, kết quả tính theo phương pháp là 62,36%, làm tròn là 62%.

Cơ quan điều tra đã trưng cầugiám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông. Kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết mài trượt cao su, chùn cong kim loại, hướng từ mặt lăn vào tâm trục ở mặt lăn lốp và vành bánh trước của xe mô tô không đeo biển số, số máy JA39E -3049264 phù hợp với dấu vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau ở mặt ngoài giảm sóc trước bên trái và khung kim loại dưới để chân trước bên trái của xe đạp điện số khung 15837.

- Dấu vết lõm, trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau ở mặt trên đầu chắn bùn bánh trước và ốp nhựa giảm sóc trước bên trái của xe mô tô không đeo biển số, số máy JA39E -3049264 phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu đen (dạng sơn nhựa) ở mặt dưới khung kim loại gắn đỡ giỏ của xe đạp điện số khung15837.

- Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở đầu bên trái trục bánh trước và giảm sóc trước bên trái của xe mô tô không đeo biển số, số máy JA39E -3049264 phù hợp với dấu vết gãy, hằn lõm kim loại, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở khung kim loại dưới để chân trước bên trái của xe đạp điện số khung 15837.

2. Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô không biển kiểm soát số máy JA39E -3049264 đổ nghiêng trái, văng trượt trên mặt đường tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô không đeo biển số, số máy JA39E -3049264 và xe đạp điện số khung 15837 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3 và số 5, thuộc làn đường thứ 2 của chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng cầu M đi đường tỉnh lộ 295B.

4. Chiều hướng chuyển động: Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô không đeo biển số, số máy JA39E -3049264 chuyển động theo hướng cầu M đi đường tỉnh lộ 295B.

Không xác định được chiều hướng chuyển động của đạp điện số khung15837 tại thời điểm xảy ra va chạm.

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Công an thành phố đã trưng cầu giám định file videothu giữ tại cửa hàng xăng dầu số 1 Công ty TNHH P tại khu vực hiện trường.

Kết luận giám định số 2413/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên "192.168.1.199_01_20231122144753882.mp4" dung lượng: 13,7MB; thời lượng: 01 phút 07 giây lưu trữ trong 01 đĩa CD-R gửi giám định.

Cơ quan điều tra cho Trần Quang L quan sát file video đã thu giữ. Kết quả, L xác định có hình ảnh L điều khiển xe mô tô đi trên đường T và xảy ra va chạm với xe đạp điện do ông K điều khiển.

Ngày 20/02/2024, Cơ quan điều tra cho Trần Quang L thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả khi L nhìn thấy ông K ở khoảng cách 66m thì ông K điều khiển xe đi ra nhưng chưa sang đường; khi còn cách 38m thì L nhìn thấy ông K bắt đầu điều khiển xe sang đường. L xác định do điều khiển xe mô tô không làm chủ được tốc độ nên gây tai nạn.

Kết quả xác minh tại Sở giao thông vận tải tỉnh B xác định: Trần Quang L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 22/11/2017.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá thiệt hại của xe đạp điện và xe máy. Kết quả xác định chiếc xe đạp điện bị hư hỏng trị giá 2.240.000 đồng; chiếc xe mô tô bị hư hỏng trị giá 2.220.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đường Thị T là mẹ bị cáo L đã bồi thường cho ông Trần Viết K 40.000.000 đồng. Ông K không yêu cầu bồi thường thêm và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại Trần Quang L chiếc xe mô tô không biển số và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...]; trả lại cho ông Trần Viết K chiếc xe đạp điện.

Tại Bản cáo trạng số 136/CT-VKS ngày 24 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Quang L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quang L từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trần Quang L có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 15 giờ ngày 20/11/2023, L điều khiển xe mô tô Honda Wave không biển số đi trên đường T theo hướng từ thành phố B đi thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Khi L điều khiển xe đi đến địa phận thuộc tổ D, phường M, thành phố B do không làm chủ tốc độ nên đã va chạm với xe đạp điện do ông Trần Viết K điều khiển đi từ bên phải đường theo hướng đi của L để đi sang bên trái đường. Hậu quả ông K bị thương tích 62%. Hành vi của Trần Quang L đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Đối với ông Trần Viết K cũng có lỗi khi điều khiển xe đạp điện sang đường, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông. Bị cáo điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, gây tai nạn, hậu quả làm ông K bị thương tích 62%. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân là Bản án hình sự sơ thẩm số74 ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau tai nạn, bị cáo có tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Bị cáo tuy đã từng bị xét xử hình sự nhưng thời gian xét xử đã lâu, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tích cực khắc phục hậu quả cho bị hại.Trong vụ án, bị hại cũng có một phần lỗi và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Trần Quang L 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND p.Nếnh, TX.Việt Yên, Bắc Giang.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 13/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang L - Vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger