Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ R

TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày 12 - 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Chí L

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chung Kim S

Bà Hà Thị Th

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ư- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Văn Th- Kiểm sát viên.

Trong ngày 20; ngày 26 tháng 6 và ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 334/2023/TLST-HS ngày 25/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 20/02/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Minh L, sinh ngày 22/3/1999 tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Đông B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Số 520 tổ 14 khu phố Kinh 10, thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng Minh và bà Nguyễn Thanh Linh.

    * Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 11/4/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 26/7/2023 bị khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 22/11/2023 bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 95 ngày 13/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá do vi phạm nghĩa vụ cam đoan về áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  2. Nguyễn Nhật H, sinh ngày 02/3/2002 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Số 597/61/35 đường Vàm Trư, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Huỳnh Thị Bo.

    * Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 11/4/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 26/7/2023 bị khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 22/11/2023 bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 96 ngày 13/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá do vi phạm nghĩa vụ cam đoan về áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Ông Mai Thành T, sinh năm 1964 (ngày 20/6/2024 và 26/6/2024 vắng mặt; có mặt tại phiên tòa ngày 12/7/2024).

Địa chỉ: Số 421 ấp Tân Điền, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Minh Ph sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Số 673/6 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

  • Ông Trần Thanh Ph, sinh năm 2002.

    Địa chỉ: Số 278B ấp Đồng Tràm, xã Long Thạnh, Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

  • Ông Võ Phan Tuấn V, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: Số 574/9 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người làm chứng:

  • Bà Lê Thị Thanh Th, sinh năm 2004.

    Địa chỉ: Số 649 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

  • Bà Lâm Ngọc Ph, sinh năm 2003 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Số 219 đường Phạm Hùng, khu phố 5, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

  • Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1979 (Có mặt).

    Địa chỉ: Số 597/61/35 đường Vàm Trư, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhật H, Nguyễn Minh L và Võ Phan Tuấn Vũ làm thuê cho ông Mai Thành Tâm tại quán nhậu Nhựt H, số 168, đường Phạm Hùng, phường Vĩnh Bảo. Trong thời gian làm thuê thì ông Tâm chưa trả lương cho H, L, Vũ. Vào ngày 11/4/2023, ông Tâm hẹn H, L, Vũ đến quán để trả tiền. Khi cả ba đến nơi thì không thấy ai nên ba người ngồi đợi đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày vẫn không gặp được ông Tâm. Lúc này, cả ba bàn bạc với nhau lấy tài sản của quán ông Tâm để trừ nợ thì tất cả đồng ý. Sau đó, cả ba cùng nhau lấy 02 cái tủ bán đồ ăn đang để trước quán đẩy qua phía bên đường đối diện để bán phế liệu nhưng không có ai để bán nên H về nhà gặp mẹ H là bà Huỳnh Thị Bo nhờ chỉ chỗ vựa mua phế liệu (do bà Bo cũng là người mua phế liệu, bà Bo không biết H nhờ bán tài sản lấy trộm). Bà Bo dẫn H đến vựa phế liệu của ông Nguyễn Minh Phát tại địa chỉ số 673/6, đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, gặp Phát thì H lấy điện thoại có hình ảnh 02 cái tủ mà H lấy trộm tại quán ông Tâm cho Phát xem thì Phát đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. H nói với Phát là ở tại quán Nhựt H còn bàn và ghế cần bán (Phát nghĩ là tài sản của quán thanh lý không biết là do H trộm cắp và H cũng không nói cho Phát biết là tài sản do trộm cắp) nên Phát kêu Trần Thanh Phát (Quý) đến nơi để xem tài sản thì khi đến nơi Quý chụp hình gửi về cho Minh Phát xem. Do hình xem không rõ nên Minh Phát trực tiếp đến quán Nhựt H để xem và mua tài sản. Lúc này, Minh Phát xem lại và đồng ý mua 02 cái tủ bán đồ ăn đang để phía bên đường đối diện với giá 2.000.000 đồng nhưng Vũ, H, L không chịu bán. H hỏi Vũ là bàn, ghế trong quán tính sao có bán hay không thì Vũ nói với H là Vũ có việc làm rồi, Vũ nói với H và L là muốn bán thì tự bán, tự chia với nhau đi Vũ không tham gia rồi Vũ bỏ đi.

Sau khi Vũ bỏ đi thì còn lại H và L nên cả hai thống nhất bán 18 cái bàn, 34 cái ghế, 01 cái tủ nhỏ cho Nguyễn Minh Phát với số tiền 2.600.000 đồng. Sau khi thỏa thuận mua bàn, ghế và tủ xong thì H kêu Nguyễn Minh Phát đưa cho L 1.000.000 đồng để L đi về trước, số tiền còn lại khi nào Minh Phát chở tài sản về vựa phế liệu xong thì mới trả tiền cho H. Lúc này, H kêu Quý chở 01 cái chuồng gà của quán Nhựt H về nhà của H ở số 597/61/35, Vàm Trư, phường Vĩnh Quang còn Nguyễn Minh Phát ở lại quán kêu xe tải chở số bàn ghế đã mua về vựa, khi đang tiến hành vận chuyển thì Công an phường Vĩnh Bảo đến mời tất cả về trụ sở Công an phường làm việc. Tại Cơ quan Công an thì H, L, Vũ thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản. Tang vật đã được thu hồi. Nguyễn Minh L tự nguyện giao nộp lại số tiền 1.000.000 đồng. Nguyễn Nhật H tự nguyện giao nộp tài sản lấy trộm là 01 cái chuồng gà. Ngày 26/7/2023, Nguyễn Minh L, Nguyễn Nhật H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Quá trình điều tra, bị can L, H vi phạm nghĩa vụ cam đoan về áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nên Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với L, H để điều tra theo quy định.

Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; bị can Nguyễn Minh L tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính có được từ việc bán tài sản lấy trộm là 1.000.000 đồng; bị can Nguyễn Nhật H tự nguyện giao nộp tài sản lấy trộm là 01 cái chuồng gà. Các bị can không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

  • 18 (mười tám) cái bàn có chân đế bằng thép hộp 25x50x1mm dài 50cm (02 chân chữ thập), thân thép tròn D60 dày 1mm hoặc thép hộp 40x40xx1 cao 60cm, khung mặt bàn bằng thép vuông 20 x 20 x 1mm, toàn bộ thép được sơn màu vàng kem, mặt bàn bằng gạch men có hoa tiết sọc vân gỗ hình vuông kích thước 80x80x1cm, từ chân bàn đến mặt bàn cao 0,73m, đã qua sử dụng;
  • 34 (ba mươi bốn) cái ghế dựa lưng bằng kim loại, phần tựa tay và phần đế bằng gỗ tạp, khung và chân ghế thép hộp 25 x 25 x 1mm, tựa lưng 04 thanh thép dẹt 25 x 1mm, toàn bộ ghế sơn màu vàng kem cao 0,9m, rộng 0,55m, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ có khung bằng thép hộp 30 x 30 x 1mm, chân thép hộp 30 x 60x1mm dài 60cm, ốp ván ép bên ngoài, bên trên có lắp tủ kính 5mm cao 0,3m rộng 0,8m, phần tủ thép hình cao 0,7m, rộng 0,8m, dài 0,62m, toàn bộ tủ sơn màu vàng kem, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có 04 bánh xe đẩy màu đen, tủ cao 1m57, dài 1m6, rộng 0,63m, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng (tủ bán đồ ăn);
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có mái che bằng tôn màu xanh hình chữ A, dài 1m98, cao 1m97, rộng 0,6m, mặy tủ cao 0,6cm, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng (tủ bán đồ ăn);
  • 01 (một) cái chuồng gà khung bằng thép hộp 30x30x1mm, được rào bằng thép lưới mắt vuông, phần lưng và vách ngăn lợp tôn phẳng, toàn bộ được sơn màu vàng kem, dài 2m96, rộng 0,6m, cao 0,81m, đã qua sử dụng.
  • Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS, ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

  • 18 (mười tám) cái bàn có chân đế bằng thép hộp 25x50x1mm dài 50cm (02 chân chữ thập), thân thép tròn D60 dày 1mm hoặc thép hộp 40x40xx1 cao 60cm, khung mặt bàn bằng thép vuông 20x20x1mm, toàn bộ thép được sơn màu vàng kem, mặt bàn bằng gạch men có hoa tiết sọc vân gỗ hình vuông kích thước 80x80x1cm, từ chân bàn đến mặt bàn cao 0,73m, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 210.000 đồng/cái, tổng cộng 18 cái là 3.780.000 đồng;
  • 34 (ba mươi bốn) cái ghế dựa lưng bằng kim loại, phần tựa tay và phần đế bằng gỗ tạp, khung và chân ghế thép hộp 25x25x1mm, tựa lưng 04 thanh thép dẹt 25x1mm, toàn bộ ghế sơn màu vàng kem cao 0,9m, rộng 0,55m, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 113.000 đồng/cái, tổng cộng 34 cái là 3.842.000 đồng;
  • 01 (một) cái tủ có khung bằng thép hộp 30x30x1mm, chân thép hộp 30x60x1mm dài 60cm, ốp ván ép bên ngoài, bên trên có lắp tủ kính 5mm cao 0,3m rộng 0,8m, phần tủ thép hình cao 0,7m, rộng 0,8m, dài 0,62m, toàn bộ tủ sơn màu vàng kem, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 113.000 đồng/cái;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có 04 bánh xe đẩy màu đen, tủ cao 1m57, dài 1m6, rộng 0,63m, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 600.000 đồng/cái;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có mái che bằng tôn màu xanh hình chữ A, dài 1m98, cao 1m97, rộng 0,6m, mặy tủ cao 0,6cm, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 750.000 đồng/cái;
  • 01 (một) cái chuồng gà khung bằng thép hộp 30x30x1mm, được rào bằng thép lưới mắt vuông, phần lưng và vách ngăn lợp tôn phẳng, toàn bộ được sơn màu vàng kem, dài 2m96, rộng 0,6m, cao 0,81m, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 11/4/2023 có giá trị là 550.000 đồng/cái;

Tổng cộng 9.635.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại là ông Mai Thành Tâm:

  • 18 (mười tám) cái bàn có chân đế bằng thép hộp 25x50x1mm dài 50cm (02 chân chữ thập), thân thép tròn D60 dày 1mm hoặc thép hộp 40x40xx1 cao 60cm, khung mặt bàn bằng thép vuông 20x20x1mm, toàn bộ thép được sơn màu vàng kem, mặt bàn bằng gạch men có hoa tiết sọc vân gỗ hình vuông kích thước 80x80x1cm, từ chân bàn đến mặt bàn cao 0,73m, đã qua sử dụng;
  • 34 (ba mươi bốn) cái ghế dựa lưng bằng kim loại, phần tựa tay và phần đế bằng gỗ tạp, khung và chân ghế thép hộp 25x25x1mm, tựa lưng 04 thanh thép dẹt 25x1mm, toàn bộ ghế sơn màu vàng kem cao 0,9m, rộng 0,55m, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ có khung bằng thép hộp 30x30x1mm, chân thép hộp 30x60x1mm dài 60cm, ốp ván ép bên ngoài, bên trên có lắp tủ kính 5mm cao 0,3m rộng 0,8m, phần tủ thép hình cao 0,7m, rộng 0,8m, dài 0,62m, toàn bộ tủ sơn màu vàng kem, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có 04 bánh xe đẩy màu đen, tủ cao 1m57, dài 1m6, rộng 0,63m, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có mái che bằng tôn màu xanh hình chữ A, dài 1m98, cao 1m97, rộng 0,6m, mặy tủ cao 0,6cm, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái chuồng gà khung bằng thép hộp 30x30x1mm, được rào bằng thép lưới mắt vuông, phần lưng và vách ngăn lợp tôn phẳng, toàn bộ được sơn màu vàng kem, dài 2m96, rộng 0,6m, cao 0,81m, đã qua sử dụng.

Theo quyết định xử lý vật chứng số 42, ngày 26/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Minh Phát: Tiền Việt Nam là 1.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 21/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị hại ông Mai Thành Tâm thống nhất với Kết luận định giá tài sản, xác định đã nhận lại các tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu gì khác. Ngoài ra ông Tâm có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
  • Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L mức án 07 (bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, trả tự do cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội khác.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H mức án 07 (bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, trả tự do cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội khác.
    • + Hình phạt bổ sung: Không đề nghị do các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2023, Nguyễn Nhật H cùng với Nguyễn Minh L đã bàn bạc và thống nhất lấy trộm tài sản tại quán nhậu Nhựt H, số 168, đường Phạm Hùng, phường Vĩnh Bảo của ông Mai Thành Tâm để trừ vào tiền làm thuê mà ông Tâm còn nợ H, L. Khi quan sát thấy không có người trông coi nên H và L đã lén lút lấy trộm 18 cái bàn, 34 cái ghế dựa, 03 cái tủ bằng kim loại, 01 cái chuồng gà bằng thép của ông Tâm. Tổng giá trị tài sản qua định giá là 9.635.000 đồng.

Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ. Theo đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố các bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị nhưng các bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả các bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo các bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo H và bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên có căn cứ cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này các bị cáo cùng nhau bàn bạc và thống nhất ý chí để thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt như nhau, tương ứng với mức độ hành vi mà các bị cáo đã gây ra để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật.

Ngoài ra các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự được xem là có nhân thân tốt, đây là đặc điểm cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử xét thấy thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam đã đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng thời gian các bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam đồng thời căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Thành Tâm đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Nguyễn Minh Phát đã bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng để mua tài sản do các bị cáo L, H lấy trộm, ông Phát không yêu cầu các bị cáo bồi thường, tuy nhiên bị cáo L đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.000.000 đồng để trả cho ông Nguyễn Minh Phát và hiện tại đã trả xong, ông Phát không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là ông Mai Thành Tâm:

  • 18 (mười tám) cái bàn có chân đế bằng thép hộp 25x50x1mm dài 50cm (02 chân chữ thập), thân thép tròn D60 dày 1mm hoặc thép hộp 40x40xx1 cao 60cm, khung mặt bàn bằng thép vuông 20x20x1mm, toàn bộ thép được sơn màu vàng kem, mặt bàn bằng gạch men có hoa tiết sọc vân gỗ hình vuông kích thước 80x80x1cm, từ chân bàn đến mặt bàn cao 0,73m, đã qua sử dụng;
  • 34 (ba mươi bốn) cái ghế dựa lưng bằng kim loại, phần tựa tay và phần đế bằng gỗ tạp, khung và chân ghế thép hộp 25x25x1mm, tựa lưng 04 thanh thép dẹt 25x1mm, toàn bộ ghế sơn màu vàng kem cao 0,9m, rộng 0,55m, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ có khung bằng thép hộp 30x30x1mm, chân thép hộp 30x60x1mm dài 60cm, ốp ván ép bên ngoài, bên trên có lắp tủ kính 5mm cao 0,3m rộng 0,8m, phần tủ thép hình cao 0,7m, rộng 0,8m, dài 0,62m, toàn bộ tủ sơn màu vàng kem, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có 04 bánh xe đẩy màu đen, tủ cao 1m57, dài 1m6, rộng 0,63m, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái tủ khung bằng kim loại màu trắng, bên trên có lắp tủ kính dày 5mm, kệ kính dày 1cm, có mái che bằng tôn màu xanh hình chữ A, dài 1m98, cao 1m97, rộng 0,6m, mặy tủ cao 0,6cm, bị rỉ sét nhiều nơi, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cái chuồng gà khung bằng thép hộp 30x30x1mm, được rào bằng thép lưới mắt vuông, phần lưng và vách ngăn lợp tôn phẳng, toàn bộ được sơn màu vàng kem, dài 2m96, rộng 0,6m, cao 0,81m, đã qua sử dụng.

Theo quyết định xử lý vật chứng số 42, ngày 26/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Minh Phát: Tiền Việt Nam là 1.000.000 đồng.

Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xử lý.

[8] Về vấn đề khác: Đối với Võ Phan Tuấn Vũ, căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra xác định được Vũ đã cùng với bị cáo L, H lấy trộm 02 cái tủ bán đồ ăn trong quán Nhựt H của ông Mai Thành Tâm, đối với những tài sản khác Vũ không thống nhất ý chí và cũng không cùng thực hiện việc lấy trộm tài sản cùng với L và H nên không phải là đồng phạm với L, H trong việc trộm cắp những tài sản này. Căn cứ kết quả định giá tài sản đối với 02 cái tủ bán đồ ăn mà Vũ cùng H, L lấy trộm là 1.350.000 đồng, qua kết quả tra cứu xác định Vũ không có tiền án, tiền sự liên quan đến tội phạm, hành vi chiếm đoạt tài sản và không thuộc một trong các trường hợp khác quy định từ điểm c đến đ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên hành vi của Vũ không cấu thành tội Trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ.

Đối với Huỳnh Thị Bo, Nguyễn Minh Phát, Trần Thanh Phát không biết việc các bị cáo L, H trộm cắp tài sản, những người này không hứa hẹn hay thỏa thuận và cũng không biết được tài sản các bị cáo H, L bán là tài sản trộm cắp nên không có hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản hay Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

    Khoản 2 Điều 136; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 07 (bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; tính từ ngày 22/11/2023 đến ngày 12/7/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trả tự do cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội khác.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

    Khoản 2 Điều 136; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 07 (bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; tính từ ngày 22/11/2023 đến ngày 12/7/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trả tự do cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội khác.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Nhật H và Nguyễn Minh L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng)
  4. Quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/7/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Rạch Giá;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá;
  • - Công An Tp. Rạch Giá;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

BÙI CHÍ LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn NHật H, Nguyễn Minh L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger