|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2024/HS-ST Ngày: 11-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và ông Ngô Minh Hoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với:
Bị cáo TRẦN NHẬT D sinh ngày 27/5/1998, tại thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: lớp 9/12; con ông Trần Mạnh H (đã chết) và bà Đỗ Thị Thủy s năm 1970, trú tại tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 21/6/2024, Trần Nhật D đi bộ từ nhà đến khu vực đường L thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp một người nam giới, D không biết tên, địa chỉ hỏi và mua được 01 gói ma túy bên trong có 03 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. D cầm gói ma túy vừa mua được ở tay phải rồi đi bộ về nhà. D đi được một đoạn thì bị tổ tuần tra lực lượng Biên phòng tỉnh T phối hợp với Đồn biên phòng Cửa khẩu C1 làm nhiệm vụ tuần tra thấy có biểu hiện vi phạm pháp luật đã yêu cầu D dừng lại để kiểm tra. Tại đây trước sự chứng kiến của anh Đào Hữu Đ, sinh năm 1980 trú tại tổ dân phố Ngoại Trình và ông Lê Hợp D1, sinh năm 1956 trú tại tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tổ công tác đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho D, D tự giác giao nộp 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, mở ra bên trong có 03 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh bên trong mỗi túi có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, D khai là ma túy đá D mua về để sử dụng giao nộp cho lực lượng chức năng. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người D không phát hiện thu giữ gì, sau đó đưa D cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Cùng ngày, Đồn biên phòng Cửa khẩu C1 khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Nhật D nhưng không thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 960/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: "Vật chứng giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7054 gam. Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Cáo trạng số 126/CT-VKSTT ngày 28/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Trần Nhật D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhật D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Trần Nhật D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nhật D từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/6/2024;
- + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ 0,6050 gam Methamphetamine sau khi giám định còn lại và toàn bộ bao gói đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 960/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T;
- + Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa không có sự thay đổi so với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo đã thừa nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Bộ đội biên phòng tỉnh T lập hồi 22 giờ 30 phút, ngày 21/6/2024; Biên bản niêm phong đồ vật do Đồn biên phòng Cửa khẩu C1 lập hồi 23 giờ 35 phút ngày 21/6/2024; Bản kết luận giám định số 960/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: anh Đào Hữu Đ và ông Lê Hợp D1...
[3] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn để kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại đường L thuộc tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Trần Nhật D có hành vi cất giấu trái phép ở bàn tay phải 01 túi nilon bên trong có 03 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7054 gam, mục đích để sử dụng.
[4] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ ma túy là loại chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý; tác hại của ma túy là vô cùng nghiêm trọng; nó không chỉ gây ra những tổn hại về sức khỏe, kinh tế cho chính người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, xã hội và kinh tế của đất nước; là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự; Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp, tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm về ma tuý; đã quy định những chế tài đặc biệt nghiêm khắc đối với các tội phạm về ma tuý; nhưng chỉ vì muốn thoả mãn thói hư, tật xấu của mình, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội.
[5] Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[6] Bị cáo Trần Nhật D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thuỵ đã truy tố.
[7] Bị cáo là người có nhân thân tốt, đây là lần đầu bị cáo vi phạm pháp luật.
[8] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[10] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung cần phải xử phạt bị cáo Trần Nhật D bằng hình phạt tù với mức án nghiêm khắc khắc như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
[11] Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy Methamphetamine mà cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Trần Nhật D sau khi giám định còn lại là 0,6050 gam, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Bị cáo Trần Nhật D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nhật D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Nhật D 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2024.
- 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ 0,6050 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói thu giữ của Trần Nhật D trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 960/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
(Vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024)
- 4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Nhật D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/9/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Nhật Dũng - Tàng trữ trái phép chất ma túy
