Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày: 11/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2024/TLST-HSST ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 21/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000, tại Phú Thọ; HKTT và chỗ ở: Khu Đ, T, C, Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Họ tên bố: Nguyễn Văn M (SN: 1979); Họ tên mẹ: Bùi Thị T (SN: 1980); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ tên vợ: Lê Thị Huyền T1 (SN: 2001); Có 02 con sinh năm 2019 và 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

D chỉ bản số 45 lập ngày 15/01/2024 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội

Bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trương Ngọc H, sinh năm 1999 (có mặt)

HKTT: Tổ 2, ấp Tám Ngàn, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, Kiên Giang

Trú tại: Số 17, ngõ 1, phố Tân Khai, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Tạ Văn T2, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  2. HKTT: thôn Đới Khê, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, Hưng Yên

    Trú tại: Tổ Bằng A, phố Bằng Liệt, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội

  3. Anh Lê Mạnh Q1, sinh năm 2001 (xin vắng mặt)
  4. HKTT: Thôn M, Thượng Bằng L, Văn Chấn, Yên Bái

  5. Anh Đoàn Đình C, sinh năm 2004 (xin vắng mặt)
  6. HKTT: thôn C, H, N, Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q và anh Tạ Văn T2 (SN: 1998; HKTT: Đặng Lễ, Â, Hưng Yên) cùng thuê trọ tại tổ B A, B, H, H, Hà Nội. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/08/2023 khi hết giờ làm việc tại quán L1 ở khu đô thị T thuộc phường H, H, Hà Nội thì Q đi về phòng trọ và tự ý lấy xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 89B1-796.36 của anh T2 để đi chơi (Nguyễn Văn Q không có giấy phép lái xe theo quy định). Sau đó Q điều khiển xe mô tô quay lại quán Lẩu V và chở Lê Mạnh Q1 (SN: 2001; HKTT: Thượng Bằng La, V, Yên Bái) và Đoàn Đình C (SN: 2004; HKTT: H, N, Nam Định) đều là nhân viên quán Lẩu V đến khu vực hồ T thuộc xã T, T, Hà Nội uống rượu và ăn đêm với nhau.

Đến khoảng 02 giờ 45 phút ngày 17/08/2023, Q điều khiển xe mô tô BKS: 89B1-796.36 chở C ngồi giữa, Q1 ngồi phía sau đi vào ngõ F (sau xác định là ngõ F) đường K thuộc địa phận xã T, T, Hà Nội theo hướng đi cầu Bắc Linh Đ để về phòng trọ ở tổ B, B, H, H, Hà Nội. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa ngõ F và đường K thì đèn tín hiệu giao thông thời điểm này là đèn vàng báo hiệu nhấp nháy liên tục. Q điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 60 km/h và không giảm tốc độ, thi cùng lúc này, chị Trương Thị Ngọc H1 (SN: 1999; HKTT: B, H, Kiên Giang) điều khiển xe mô tô Honda Wave A, BKS: 29C1-720.84 đi trên đường K theo hướng từ Cầu D, đến khu vực ngã tư giao với ngõ F thì xảy ra va chạm với xe mô tô do Q điều khiển, do đang đi với tốc độ nhanh và không phản ứng kịp nên Q đánh lái cho xe tránh sang bên phải nhưng phần đầu xe bên trái và phần cần số, bàn để chân trước bên trái xe moto BKS: 89B1-796.36 do Q điều khiển đã va chạm với phần đầu xe mô tô Honda Wave A, BKS: 29C1-720.84 do chị H1 điều khiển làm xe của chị H1 bị đổ xuống đường, xe mô tô do Q điều khiển cũng bị đổ xuống đường và văng đi khoảng hơn 10 m về hướng cầu B. Sau đó, Q, C và Q1 đứng dậy và dắt xe máy rời khỏi hiện trường. Hậu quả: Chị H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q2.

Sau khi tiếp nhận tin báo, hồi 04 giờ ngày 17/08/2023, Đội Cảnh sát GTTT - Công an huyện T phối hợp với Đội Kỹ thuật hình sự - Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Tình trạng hiện trường: Hiện trường không còn nguyên vẹn, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu, phương tiện liên quan đã bỏ đi khỏi hiện trường.

1. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:

  • - Đường dải nhựa phẳng, đường hai chiều, tại nơi xảy ra tai nạn đường không có vạch sơn chia hai phần đường. Lòng đường rộng 07m50.
  • - Lối mở từ đường K hướng vào ngõ F đường K rộng 10m20.
  • - Ngõ F đường K rộng 05m00.
  • - Cầu B Đàm rộng 12m00.
  • - Tại nơi xảy ra tai nạn có đèn tín hiệu giao thông.

2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  • (1) Xe mô tô BKS: 29C1-720.84.
  • (2) Vết cày dài 01m60.
  • (3) Vết cày dài 02m30.

3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

  • - Điểm mốc nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép ngõ bên trái ngõ F đường K theo chiều từ đường K hướng vào ngõ F đường K.
  • - Mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép đường bên phải đường K theo chiều cầu D hướng Cầu T.

4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Xe mô tô BKS: 29C1-720.84 đổ nghiêng sang phải nằm trên đường K, đầu xe hướng ngõ F đường K và hơi chếch phía cầu D, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 00m50, đồng thời cách điểm mốc là 00m70; đuôi xe hướng cầu B và hơi chếch phía cầu T, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn được 01m70.

(2) Vết cày dài 01m60: Đầu vết cày hướng cầu D, cách mép đường chuẩn là 01m00; cuối vết vày trùng với tau nắm bên phải xe mô tô BKS: 29C1-720.84.

(3) Vết cày dài 02m30: Đầu vết cày hướng cầu D, cách mép đường chuẩn là 00m40; cuối vết cày trùng với tâm trục bánh trước bên phải xe mô tô BKS: 29C1-720.84.

Ngày 09/11/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ.

Ngày 16/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết va chạm trên các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Tại bản Kết luận giám định số 7548/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của V1 – Bộ C1 kết luận:

Không xác định được:

  • - Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 29C1-720.84 và xe mô tô biển số 89B1-796.36.
  • - Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 29C1-720.84 và xe mô tô biển số 89B1-796.36.
  • - Tốc độ của xe mô tô biển số 29C1-720.84 và xe mô tô biển số 89B1-796.36 ngay trước khi xảy ra va chạm.

Ngày 28/08/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của chị Trương Thị Ngọc H1. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 34/KLTTCT-PY ngày 19/09/2023 của V2 – Cục Q3 kết luận:

  • - Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương do tác động của vật tày.
  • - Tỷ lệ tổn thương cơ thể:

Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y:

  • + Dập não vùng trán phải: Ô dập não kích thước 6,5x4,5 cm, tỷ lệ 26% (mục III.2, chương 1).
  • + Máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải hiện không còn trên chẩn đoán hình ảnh tỷ lệ 8% (mục III.7 và ghi chú mục III, chương I).
  • + Máu tụ ngoài màng cứng thái dương trái hiện không còn trên chẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ 5% (mục III.7 và ghi chú mục III, chương I).
  • + Vỡ xương thái dương chẩm và nền sọ giữa trái, tỷ lệ 25% (mục I.2.4 và ghi chú mục I, chương 1).
  • + Khuyết xương sọ trán – thái dương phải, kích thước 4x5 cm đáy chắc, tỷ lệ 26% (mục I.5.3 và ghi chú mục I.5, chương 1).
  • + Vỡ thành trong ổ mắt phải, tỷ lệ 5% (mục XIII.1, chương 10).
  • + Vết mổ vùng trán – đỉnh – thái dương, tỷ lệ 2% (mục I.2, chương 8).
  • + Vết mổ vùng đỉnh – thái dương trái, tỷ lệ 2% (mục I.2, chương 8).
  • + Lỗ mở khí quản vùng cổ trước, tỷ lệ 4% (mục I.2 và nguyên tắc 2, chương 8).
  • + 04 vết thương nhỏ mặt mu bàn tay trái, mỗi vết tỷ lệ 1% (mục I.3, chương 8).
  • + 02 vết thương nhỏ mặt mu bàn chân trái, mỗi vết tỷ lệ 1% (mục I.3, chương 8).

Cộng tỷ lệ và làm tròn theo công thức quy định tại Thông tư bằng 70%.

Vậy tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của chị Trương Thị Ngọc H1 tại thời điểm giám định là 70%.

Ngày 25/10/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã có Công văn gửi Trung tâm điều khiển giao thông – Phòng CSGT Công an thành phố H đề nghị cung cấp thông tin về đèn tín hiệu giao thông tại thời điểm xảy ra tai nạn. Tại Công văn số 82 ngày 02/11/2023 của Trung tâm điều khiển giao thông - Phòng CSGT Công an thành phố H thể hiện:

  • - Hiện máy chủ của hệ thống điều khiển đèn tín hiệu giao thông và tủ điều khiển đèn tín hiệu giao thông tại nút giao đường K - Cầu B, T, T, Hà Nội không lưu trữ lịch sử hoạt động nên không xác định được vào thời điểm xảy ra vụ việc vào 02 giờ đến 03 giờ ngày 17/08/2023 nút đèn tín hiệu giao thông đường K - Cầu B có hoạt động hay không và không xác định được trạng thái của các đèn tín hiệu giao thông màu xanh hay đỏ.
  • - Hiện nay trong khoảng thời điểm từ 00 giờ đến 04 giờ, tủ điều khiển nút đèn tín hiệu giao thông trên được cài đặt theo chế độ cảnh báo nguy hiểm cho các phương tiện qua nút giảm tốc độ (nháy vàng).

Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn Q hồi 21 giờ 52 phút ngày 17/08/2023, kết quả: 0,000 mg/l.

Ngày 23/11/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã có công văn gửi Bệnh viện đa khoa huyện C, tỉnh Phú Thọ đề nghị cung cấp bản sao hồ sơ bệnh án của Nguyễn Văn Q. Tại hồ sơ bệnh án thể hiện: Nguyễn Văn Q vào viện ngày 18/08/2023, ra viện ngày 23/08/2023. Chẩn đoán ra viện: Chấn thương sọ não kín, xuất huyết dưới nhện, đụng dập nhu mô não thái dương phải/ Vỡ xương trán ổ trần mắt trái.

Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của Q phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được. Q khai: Trước khi tham gia giao thông, Q đã uống khoảng hơn 10 chén rượu. Q điều khiển xe mô tô đi trong ngõ F đường K, gần đến khu vực ngã tư đường thì Q điều khiển xe với tốc độ khoảng 60km/h. Khi bánh xe mô tô phía trước của Q vừa chớm ra đến đường K thì Q nhìn thấy chị Trương Thị Ngọc H1 điều khiển xe mô tô Honda W đi từ hướng Cầu Dậu đến, lúc này bánh xe phía trước của Q cách đầu xe của chị H1 khoảng hơn 01 m. Do Q điều khiển xe mô tô đi nhanh và khoảng cách gần nên Q không tránh được. Bánh trước xe mô tô của chị H1 va chạm với phần bên trái xe mô tô của Q. Sau khi va chạm, xe của Q bị đổ xuống và văng đi khoảng hơn 10m, Q, C và Q1 cũng bị ngã văng theo xe. Q bị ngã đập đầu và mắt xuống đường nên bị choáng, sưng mắt không nhìn thấy được nên không biết chị H1 bị ngã như thế nào. Lúc này, Q dựng xe mô tô lên và bấm nút khởi động xe nhưng không nổ máy được nên đã cùng Q1 và C dắt xe bỏ đi về phòng trọ của Q. Sau đó, Q đã đến Bệnh viện Q2 để chụp chiếu nhưng không nằm điều trị thương tích. Đến tối ngày 17/08/2023, lực lượng Công an đã đến phòng trọ làm việc với Q về nội dung vụ việc. Ngày 18/08/2023, Q đến điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa huyện C, tỉnh Phú Thọ. Q đã có đơn từ chối đi giám định thương tích và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được và lời khai của người bị hại, những người liên quan, có đủ cơ sở để xác định: Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Nguyễn Văn Q thiếu chú ý quan sát và khi đến gần đường giao nhau giữa đường nhánh và đường chính thì xe mô tô do Q điều khiển đi từ đường nhánh không cho xe giảm tốc độ để nhường đường cho xe đi trên đường chính đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ.

Tại Cơ quan Điều tra, Lê Mạnh Q1 và Đoàn Đình C khai nhận nội dung như đã nêu trên. Q1 và C khai: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Q1 và C chỉ bị sây sát nhẹ nên từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Do Q1 và C không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông nên ngày 27/03/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Q1 và C theo quy định tại khoản 6 Điều 11 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Đối với hành vi “Không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô xe máy, chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm và chở theo hai người trên xe” của Nguyễn Văn Q, ngày 27/03/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với tổng số tiền là 1.250.000 đồng.

Đối với anh Tạ Văn T2 là chủ sở hữu chiếc xe BKS: 89B1-79636, anh T2 không giao xe mô tô cho Q và không biết việc Q chưa có giấy phép lái xe nên Cơ quan Điều tra không xử lý. Ngày 26/03/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho anh T2 chiếc xe này. Anh T2 đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu, đề nghị gì do chiếc xe không bị hư hỏng.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29C1-720.84 là tài sản của chị Trương Thị Ngọc H1, chị H1 từ chối định giá tài sản đối với phần thiệt hại của chiếc xe. Ngày 26/03/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho chị H1 chiếc xe này. Chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Về dân sự, Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho chị Trương Thị Ngọc H1 số tiền 60.000.000 đồng. Chị H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKS-TT ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội: “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại giữ nguyên lời khai, đã nhận tiền bồi thường và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 08 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự và vật chứng:

Về dân sự: Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho chị Trương Thị Ngọc H1 số tiền 60.000.000 đồng. Chị H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng: không có.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 17/08/2023, tại trước ngõ F khu vực ngã tư đường K thuộc địa phận xã T, T, Hà Nội, khi Nguyễn Văn Q (không có giấy phép lái xe theo quy định) đang điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 89B1-796.36 sau xe chở Đoàn Đình C và Lê Mạnh Q1 đi theo hướng từ ngõ F đường K đến cầu B do Q thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để nhường đường cho xe đang đi trên đường chính khi đến gần đường giao nhau giữa đường nhánh và đường chính đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 và khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ dẫn tới va chạm với xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29C1-720.84 do chị Trương Thị Ngọc H1 điều khiển theo hướng từ Cầu D đi Cầu Tó.

Hậu quả: Chị H1 bị gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 70%.

Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 60.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự và hình phạt: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bị cáo không có giấy phép lái xe, điều khiển xe chở 3 người. Bị cáo mặc dù biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do đó, cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự và vật chứng:

Về dân sự: Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho chị Trương Thị Ngọc H1 số tiền 60.000.000 đồng. Chị H1 đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: không có.

[7] Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với hành vi “Không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô xe máy, chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm và chở theo hai người trên xe” của Nguyễn Văn Q, ngày 27/03/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với tổng số tiền là 1.250.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

Đối với anh Tạ Văn T2 là chủ sở hữu chiếc xe BKS: 89B1-79636, anh T2 không giao xe mô tô cho Q và không biết việc Q chưa có giấy phép lái xe nên Cơ quan Điều tra không xử lý. Ngày 26/03/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho anh T2 chiếc xe này. Anh T2 đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 29C1-720.84 là tài sản của chị Trương Thị Ngọc H1, chị H1 từ chối định giá tài sản đối với phần thiệt hại của chiếc xe. Ngày 26/03/2024, Cơ quan Điều tra đã trao trả cho chị H1 chiếc xe này. Chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  1. Áp dụng Đ1 a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
  2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
    1. Về vật chứng vụ án: không có.
    2. Về dân sự: không.
    3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - VKS nhân dân huyện Thanh Trì;
  • - VKS nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THA huyện Thanh Trì
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger