|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2024/HS - ST Ngày: 08/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Thu Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với các bị cáo:
1. Moong Văn C; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 14 tháng 12 năm 1988 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 02/12; nghề nghiệp: làm rẫy; con ông Moong Văn S (tên gọi khác: Moong P - Đã chết) và bà M Mẹ S, sinh năm 1959; vợ: Ven Thị K, sinh năm 1987; con: có 3 người con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024, có mặt.
2. Lương Phò T; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 07 tháng 01 năm 1990 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản T, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 05/12; nghề nghiệp: làm rẫy; con ông Lương Phò P, sinh năm 1943 và bà Lương Mẹ P1 (đã chết); vợ (chung sống như vợ chồng): Lương Mẹ T1, sinh năm 1992; con: có 3 người con; tiền án, nhân thân: không; tiền sự: ngày 21/9/2022, bị Công an huyện K, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn C và bị cáo Lương Phò T: Ông Nguyễn Văn H - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3 -Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, có mặt.
- Người bị hại: chị Lương Mẹ T1, sinh năm 1993
Nơi cư trú: Bản T, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Người hỗ trợ Hội đồng xét xử (do chị Tam n, hiểu tiếng Việt, nhưng trình bày không thành thạo): anh Pệt Văn V, sinh năm 1995; trú tại: Bản X, xã Y, huyện T, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: ông Tạ Ngọc V1 - Luật sư - Văn phòng Luật sư Tạ V1 và Cộng sự - Đoàn luật sư H1, có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2011, Moong Văn C gặp và quen người phụ nữ tên K1 (không rõ danh tính, nhưng biết trú tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An) thường bán hàng rong tại bản Khe Tang, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khoảng tháng 5 năm 2012, Moong Văn C nhận được cuộc gọi qua điện thoại của phụ nữ trên, nhờ tìm phụ nữ để người này đưa sang Trung Quốc bán, sẽ được trả tiền công thì Moong Văn C đồng ý. Ngày hôm sau, Moong Văn C gặp, trao đổi với Lương Phò T về việc tìm người để lừa bán sang Trung Quốc lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lương Phò T đồng ý và nảy sinh ý định lừa chị Lương Mẹ T1 (là người chung sống với Lương Phò T như vợ chồng), bán chị T sang Trung Quốc. Nếu bán được chị Lương Mẹ T1, Moong Văn C hứa sẽ trả Lương Phò T 15.000.000 đồng và Lương Phò T đồng ý. Sau đó, Lương Phò T lừa dối chị Lương Mẹ T1 là đã tìm được việc cho chị Lương M1 Tam tại Trung Quốc, tiền lương mỗi ngày 200 Nhân dân tệ (tương đương 600.000 đồng đến 700.000 đồng), trước khi đi bên tuyển dụng lao động sẽ trích 9.000.000 đồng, nhưng họ chỉ tuyển phụ nữ. Lương Phò T thuyết phục chị Lương Mẹ T1 đi Trung Quốc làm việc khoảng 03 năm, Lương Phò T ở nhà chờ khi nào Lương Mẹ Tam về sẽ tổ chức cưới Lương Mẹ T làm vợ. Chị Lương Mẹ T1 cho rằng bên tuyển dụng lao động cho ứng 9.000.000 đồng ít quá, phải cho ứng 100.000.000 đồng thì Lương Phò T ra ngoài giả vờ điện thoại cho ai đó, rồi quay lại nói phía bên kia đã đồng ý theo yêu cầu, phải chuẩn bị đồ để sáng hôm sau đi Trung Quốc thì chị Lương Mẹ T1 đồng ý. Sau đó, Lương Phò T gọi điện thoại cho Moong Văn C, nói là đã lừa được chị Lương Mẹ T1. Moong Văn C thông báo cho người phụ nữ tên K1 biết thì người này nói đem người đã lừa được ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, K1 đón, đưa sang Trung Quốc. Sáng ngày hôm sau, Moong Văn C điều khiển xe máy (không nhớ biển kiểm soát và phương tiện này đã bị mất trộm), chở Lương Phò T và chị Lương Mẹ T1 từ xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An đến ngã ba cầu X, thuộc xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An rồi đón xe khách ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Moong Văn C, Lương Phò T và chị Lương Mẹ T1 gặp người phụ nữ tên K1 và một người phụ nữ tên M2 (người Việt Nam, sống tại Trung Quốc), Moong Văn C, K1 và người phụ nữ tên M2 đưa chị Lương M1 Tam qua sông (bằng thuyền) sang Trung Quốc. Lương Phò Tam chờ Moong Văn C quay lại rồi cùng trở về Nghệ An. Khoảng 10 ngày sau, người phụ nữ tên K1 gọi điện thoại cho Moong Văn C nói đến bản Khe Nằn, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An lấy tiền. Moong Văn C gọi Lương Phò T đi cùng. Tại điểm hẹn, K1 giao Moong Văn C 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) thì Moong Văn C chia cho Lương Phò Tam 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Số tiền này, Moong Văn C, Lương Phò T đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi sang Trung Quốc, chị Lương Mẹ T1 bị người phụ nữ tên K1 bán cho một người đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ. Năm 2015, chị Lương M1 Tam trốn được, trở về Việt Nam. Ngày 12/01/2024, chị Lương Mẹ T1 tố cáo hành vi mua bán người nêu trên của Lương Phò T, Moong Văn C.
Ngay sau khi biết chị Lương Mẹ T1 tố cáo hành vi phạm tội của mình, Moong Văn C, Lương Phò T đầu thú, khai nhận đầy đủ hành vi như đã nêu trên.
Cáo trạng số 107/CT-VKS-P2 ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Moong Văn C, Lương Phò T về tội “Mua bán người” theo điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Moong Văn C, Lương Phò T; đề nghị:
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đã bồi thường cho bị hại 6.000.000đ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt); Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Moong Văn C, Lương Phò T, mỗi bị cáo từ 06 đến 07 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận thỏa thuận giữa bị hại và các bị cáo tại phiên tòa.
- - Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được Moong Văn C hưởng lợi bất chính 5.000.000 đồng; Lương Phò Tam hưởng lợi bất chính 15.000.000 đồng. Cần truy thu số tiền trên của các bị cáo để sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật. Chiếc xe máy là phương tiện phạm tội, đã bị mất, không thu hồi được nên không có để xử lý.
- - Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn C và Lương Phò T không tranh luận về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố cũng như quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, nhưng cho rằng: các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú; trong đó bị cáo C đã vận động gia đình khắc phục khó khăn, đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại (chị T) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, nên xử phạt bị cáo C 04 năm tù; xử phạt bị cáo Tam thấp hơn mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời miễn hình phạt bổ sung và án phí cho các bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại - chị Lương Mẹ T1 đồng ý với quan điểm truy tố và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và cho rằng bị cáo T1 đã bán cả người đang chung sống như vợ chồng (vợ chưa cưới); đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị T1 và các bị cáo tại phiên tòa.
Các bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung và không có ý kiến tranh luận.
Bị hại không bổ sung ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C (do bị cáo C đã bồi thường một phần hiệt hại cho chị).
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng
Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ định tội
Tại phiên tòa, các bị cáo Moong Văn C và Lương Phò T khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố; đều thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo về tội “Mua bán người” theo điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là đúng, không bị oan. Lời khai nhận tội của Moong Văn C, Lương Phò T phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, nên có đủ căn cứ để kết luận: do hám lợi và lợi dụng sự thiếu hiểu biết của nạn nhân nên tháng 5/2012, Moong Văn C bàn với Lương Phò T về việc tìm phụ nữ để lừa, bán sang Trung Quốc lấy tiền tiêu xài thì Lương Phò T nhất trí. Lương Phò T thuyết phục, lừa chị Lương Mẹ T1 (vợ chưa cưới của Lương Phò T) đi Trung Quốc làm việc. Sau đó, Moong Văn C, Lương Phò T giao chị Lương M1 Tam cho 01 người phụ nữ tên K1 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chị Lương Mẹ T1 bị đưa sang Trung Quốc qua đường tiểu ngạch. Tại Trung Quốc, chị Lương Mẹ T1 bị bán cho người đàn ông Trung Quốc làm vợ. Sau đó, K1 về Việt Nam đưa cho Moong Văn C 20.000.000 đồng, Moong Văn C đưa Lương Phò T 15.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của Moong Văn C, Lương Phò T đã cấu thành tội “Mua bán người” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Moong Văn C, Lương Phò T về tội "Mua bán người” theo điểm đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo
Moong Văn C, Lương Phò T phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, với vai trò đồng phạm giản đơn. Khi thực hiện tội phạm, Moong Văn C, Lương Phò T nhận thức rõ việc làm của các bị cáo là sai trái, tội phạm nhưng vì muốn hưởng lợi bất chính nên vẫn phạm tội. Hành vi của Moong Văn C, Lương Phò T đã trực tiếp xâm hại đến quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng nhân dân, nên cần xử phạt nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Moong Văn C khởi xướng, trực tiếp nhận tiền công do bán chị Lương Mẹ T1 mà có nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đầu vụ; Lương Phò T đồng phạm, hành động tích cực, bán vợ chưa cưới để lấy tiền tiêu xài (chị T sau khi bị bán sang Trung Quốc làm vợ, bị ngược đãi, khổ nhục, phải bỏ trốn, tìm cách trở về Việt Nam để tố giác hành vi phạm tội của Moong Văn C, Lương Phò T), được hưởng lợi nhiều hơn Moong Văn C, nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự ngang bị cáo C.
[4] Nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; hình phạt
Moong Văn C, Lương Phò T phạm tội không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi biết bị hại - chị Lương M1 Tam tố cáo, đã đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo C tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, hiểu biết pháp luật hạn chế, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Moong Văn C, Lương Phò Tam .
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của Moong Văn C, Lương Phò T; nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm “Mua bán người” nói riêng đang diễn biến phức tạp tại tỉnh Nghệ An, cần áp dụng hình phạt tù đối với Moong Văn C, Lương Phò T với mức hình phạt đối với mỗi bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nhằm giáo dục người phạm tội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Không phạt bổ sung đối với các bị cáo, do hoàn cảnh các bị cáo khó khăn.
[5] Về trách nhiệm dân sự
Trong quá trình điều tra, bị hại - chị Lương Mẹ T1 yêu cầu Moong Văn C, Lương Phò T liên đới bồi thường 80.000.000 đồng, trong đo bị cáo T phải bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo C phải bồi thường 30.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, chị T yêu cầu Moong Văn C bồi thường 20.000.000 đồng (đã bồi thường 6.000.000 đồng, còn phải bồi thường 14.000.000₫); Lương Phò T bồi thường 50.000.000 đồng. Các bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu trên của chị T. Sự tự nguyện thỏa thuận như trên giữa bị hại và các bị cáo không trái quy định pháp luật hoặc đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: cần truy thu số tiền thu lợi bất chính của Moong Văn C và Lương Phò T theo quy định pháp luật, cụ thể: Moong Văn C 5.000.000 đồng; Lương Phò T 15.000.000 đồng.
[7] Xét hành vi liên quan:
Đối với người phụ nữ tên K1, là người đã liên lạc với Moong Văn C tìm người, đã bán chị Lương M1 Tam sang Trung Quốc, trả Moong Văn C 20.000.000 đồng tiền công: xác minh tại địa bàn xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, có người phụ nữ tên Vi Thị K2, sinh ngày 15/11/1975, trú tại bản Khen Nằn, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, hiện không có mặt tại địa phương, không ai biết đi đâu, làm gì. Đề nghị Cơ quan Điều tra Công an huyện K tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người phụ nữ tên M2: quá trình điều tra xác định người này đang ở Trung Quốc, không rõ địa chỉ. Đề nghị cơ quan Điều tra Công an huyện K tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Moong Văn C, Lương Phò T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo theo quy định pháp luật. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Moong Văn C, Lương Phò T, do các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: các bị cáo Moong Văn C, Lương Phò T phạm tội "Mua bán người".
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); các điểm s, b khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Moong Văn C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 12/01/2024).
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lương Phò T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 12/01/2024).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Moong Văn C, Lương Phò Tam .
2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng các Điều: 584, 585; 592 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự: ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Lương Mẹ T1 và Moong Văn C, Lương Phò T, cụ thể: Moong Văn C còn phải bồi thường cho chị Lương M1 Tam 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng); Lương Phò T phải bồi thường cho chị Lương M1 Tam 50.000.000 (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: truy thu số tiền lợi bất chính của các bị cáo để sung công quỹ Nhà nước, cụ thể: Moong Văn C: 5.000.000₫ (năm triệu đồng); Lương Phò T: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Moong Văn C, Lương Phò T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Moong Văn C, Lương Phò T.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và đương sự có mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao Bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 136/2024/HS - ST ngày 08/08/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về hình sự sơ thẩm về tội mua bán người
- Số bản án: 136/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán người
