|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 136/2024/DS-PT Ngày: 08 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Thọ
Bà Đào Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Đặng Kim Quang – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 123/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 119/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị N; Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn:
- Bà Đặng Ngọc M (Đời); Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Thái Huyền C (Nhì); Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ngân hàng N5; Địa chỉ số 2, L, phường T, quận B, TP ..
Đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T – Chức vụ Tổng giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Trương Quốc P –Phó Giám đốc Ngân hàng N5, chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang; Địa chỉ số B, đường H, ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.2 Ông Huỳnh Văn Ú (Út Bự); Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.3 Ông Huỳnh Trọng N1 (con bà N); Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.4 Bà Huỳnh Thị D (con bà N); Địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Thái Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Trọng N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Thái Thị N trình bày: Bà có hai phần đất nằm ở ấp P, xã P, giữa 2 phần đất là phần đất của ông Thái Văn N2 (chồng bà M, đã chết) hiện tại bà M là vợ ông N2 đang quản lý. Do không có lối đi ra phần đất vườn mà phải đi qua phần đất của ông N2. Nếu đi trên con rạch sát đất mà M thì nước cạn, lòng rạch không sâu nên không thể di chuyển được. Nay yêu cầu được mở lối đi qua đất bà M để ra vườn sầu riêng phía sau qua phần đất của bà M diện tích chiều ngang 1,5m, chiều dài theo đo đạc thực tế, đất toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Bà đồng ý trả lại giá trị bằng tiền cho bà M đối với phần đất mở lối đi theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn.
Bị đơn bà Đặng Ngọc M trình bày: Vào khoảng tháng 01/2022 chồng bà là Thái Văn N2 chết, khoảng một tháng sau ngày đám tang bà Thái Thị N có qua nhà chửi và đòi phải đưa cho bà N đường đi từ nhà ra tới vườn sầu riêng của bà N, bà không đồng ý vì đất đó là của chồng bà ông N2 đứng tên và hiện tại đã sang tên cho bà, đồng thời trước khi ông N2 chết có để lại cho mẹ con bà một khoản nợ của ngân hàng là 1.000.000.000đ và nhiều khoản nợ ở bên ngoài. Bà M có nói với bà N nếu bán sẽ bán hết để lấy tiền trả nợ nhưng bà N không đồng ý mua, nay gia đình bà không đồng ý với yêu cầu của bà N, không đồng ý mở lối đi do đất hiện tại đang thế chấp ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N5, tỉnh Hậu Giang.
Tại bản tự khai ngày 28/12/2022 bà Thái Huyền C trình bày: Bà là con của ông Thái Văn N2 và bà Đặng Ngọc M. Vào tháng 01/2022, cha bà là Thái Văn N2 đột ngột qua đời thì khoảng một tháng sau ngày đám tang bà Thái Thị N là cô ruột có qua nhà chửi và đòi phải đưa cho bà N đường đi từ nhà ra tới vườn sầu riêng của bà N, bà và mẹ bà là bà M không đồng ý vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay là do ông N2 đứng tên, sau đó ông N2 chết đã chuyển toàn bộ thừa kế quyền sử dụng đất cho bà M đứng tên, không đồng ý cho bà N mở lối đi vì trước khi cha bà chết có để lại cho mẹ con bà một khoản nợ của ngân hàng và nhiều khoản nợ ở bên ngoài. Bà M có nói với bà N nếu bán sẽ bán hết để lấy tiền trả nợ nhưng bà N không đồng ý mua, nay gia đình bà không đồng ý với yêu cầu của bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quốc P, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N5, trình bày: Phía ngân hàng không đồng ý mở lối đi cho nguyên đơn do đất bị đơn bà M đang thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo khoản vay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú trình bày: Vợ chồng ông, bà đang sở hữu hai phần đất mặt tiền làm nhà ở và một phần đất ruộng đang trồng sầu riêng, nhưng hai phần đất này không liền ranh với nhau mà ở giữa hai phần đất này là của em vợ Thái Văn N2 (thừa kế từ ba vợ là Thái Văn N3) sau khi Thái Văn N2 qua đời hiện tại do Đặng Ngọc M và Thái Huyền C là người thừa kế. Do đó để đi ra được từ nhà ông ra đến vườn sầu riêng thì phải đi nhờ qua đất của ông N2 và gia đình bà M trên lối đi này đã hơn 30 năm nay. Nhưng sau khi ông N2 chết thì vài tháng sau bà M, bà C rào lưới lại không cho chúng tôi đi nhờ trên lối đi đó nữa. Nay ông thống nhất lời trình bày của bà N về việc yêu cầu được mở lối đi qua đất bà M để ra vườn sầu riêng phía sau qua phần đất của bà M diện tích chiều ngang 1,5m, chiều dài theo đo đạc thực tế, đất toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Ông bà đồng ý trả lại giá trị bằng tiền cho bà M đối với phần đất mở lối đi theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị D, Huỳnh Trọng N1 cùng thống nhất trình bày: Ông ngoại là Thái Văn N3 lúc còn sống có cho mỗi người con trai một phần đất nền nhà (khoảng năm 1990-1991) cậu Xiếu chuyển nhượng lại đất nền nhà lại cho mẹ bà với giá là 1,5 chỉ vàng 24k lúc chuyển nhượng chỉ cắm trụ đá và không có làm hợp đồng chuyển nhượng. Và cho cậu Thái Văn H một phần đất ruộng đầu trong và cậu H đã chuyển nhượng lại cho mẹ bà canh tác đến nay đã hơn 30 năm hiện đang trồng sầu riêng và cho cậu Thái Văn N2 một phần đất ruộng đầu ngoài. Vì vậy từ nhà bà ra đến đất trồng sầu riêng thì phải đi nhờ qua phần đất của ông ngoại cho cậu Thái V nhất thừa kế. Đến năm 2012 ông N2 chuyển nhượng tiếp cho mẹ bà là bà N một phần đất nữa bờ ngang và một phần mương mặt trước giáp nhà mẹ bà và nhà bà Nguyễn Thị T1 mặt hong bên phải tiếp giáp với Thái Văn R (đường xẻo) với giá 25.000.000₫ và lúc chuyển nhượng chỉ có cắm trụ đá giáp ranh. Từ lúc bà còn nhỏ cho đến nay gia đình bà đều đi ra vườn bằng lối đi trên đất của ông ngoại là Thái Văn N3, sau khi ông ngoại chết để lại cho cậu Thái Văn N2 thừa kế và đây cũng là con đường mà ngoại bà và cậu bà cho gia đình bà đi qua để canh tác đất vườn sầu riêng và hơn 30 năm nay không hề có tranh chấp hay ngăn cản gì. Tuy nhiên sau khi ông N2 chết thì vợ và con của cậu Nhất muốn bác bỏ đường đi xưa nay của gia đình bà và đe doạ rào lưới lại bán cho người khác, không cho gia đình bà đi nhờ qua phần đất này nữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Quốc P trình bày: Không đồng ý cho mở lối đi qua bất động sản liền kề của bà M do phần đất này đã được thế chấp để đảm bảo khoản vay.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị N về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề có tổng diện tích là 170,6m², thuộc một phần thửa 1605, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00053 cấp ngày 10/01/2006 do bà Đặng Ngọc M đứng tên.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 06 tháng 09 năm 2023, nguyên đơn bà Thái Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Trọng N1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xem xét mở lối đi qua đất bị đơn cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Thái Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Trọng N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng phần đất yêu cầu mở lối đi có nguồn gốc là của cha ruột nguyên đơn và là cha chồng của bị đơn M và là lối đi duy nhất vào phần đất của nguyên đơn đã được cha mẹ cho đi sử dụng hơn 30 năm. Tuy nhiên, do thửa đất cha mẹ cho bị đơn đã có lối đi sẵn, anh em lúc chồng bị đơn còn sống vẫn để nguyên đơn sử dụng; nhưng sau khi Thái Văn N2 chết thì bị đơn rào lại không cho nguyên đơn đi. Do lối đi cũ nằm giữa thửa đất của bị đơn nên, khi đo đạc nguyên đơn đồng ý xin mở lối đi giáp con rạch để lối đi cũ lại cho bị đơn không phải chia cắt thửa đất ra. Nguyên đơn yêu cầu mở lối đi sử dụng chung và tự nguyện trả tiền theo gía trị đã được định giá.
Bị đơn Đặng Ngọc M (Đ) thừa nhận trước khi cha cho đất vợ chồng bị đơn đã có lối đi ở giữa phần thửa đất được tặng cho và vợ chồng bị đơn vẫn để cho nguyên đơn sử dụng làm lối đi. Nhưng sau khi chồng bị đơn chết bà N có qua nhà chửi và đòi phải đưa giấy cắt cho bà N đường đi từ nhà ra tới vườn sầu riêng. Bị đơn không đồng ý vì khi ông N2 chết để lại nhiều khoản nợ, nên có kêu bà N mua hết phần đất bà N không đồng ý mua. Nay bà không đồng ý mở lối đi vì mở lối đi cho bà N sẽ làm ảnh hưởng đến việc canh tác sử dụng phần đất của bà và cũng không bán phần đất còn lại. Bị đơn thừa nhận nguyên đơn không có lối đi nào khác để đi vào phần đất của nguyên đơn và thừa nhận lối đi cũ nằm ở giữa thửa đất của bị đơn, nên khi đo đạc thống nhất đo theo lối đi cặp con rạch nên lối đi trên lược đồ là lối đi dự mở theo yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý với nội dung kháng cáo; Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn bà Thái Huyền C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Quốc P Đại diện Ngân hàng N5, chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, và cũng không có ý kiến trình bày ở giai đoạn phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Quyền sử dụng đất của bà N ở phía sau thửa đất của ông N2, bà M. Vị trí đất bà N yêu cầu mở lối đi là một phần của thửa 1605 tờ bản đồ số 10 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00053 cấp ngày 10/01/2006 do bà M đứng tên. Do phần đất của bà N không còn lối đi nào khác ngoài đi qua phần đất của bà M nên yêu cầu mở lối đi hoàn toàn phù hợp. Bà N đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà M. Diện tích mở lối đi là 170,6m² so với diện tích thế chấp là 7.000m² nên không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đối với đương sự gồm có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú, bà Huỳnh Thị D có đơn kháng cáo và bị đơn Thái Huyền C (Nhì) và đại diện Ngân hàng Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N5 đã được triệu tập họp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do; Tuy nhiên, xét thấy ông Ú, chị M là chồng và con của nguyên đơn và nội dung kháng cáo cũng cùng với yêu cầu của nguyên đơn là mở lối đi ra phần đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nên không thể căn cứ khoản 3 Điều 296, Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử giải quyết song cùng với kháng cáo của nguyên đơn. Đối với chị Thái Huyền C (N4) và đại diện Ngân hàng Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N5 vắng mặt không lý do Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất với phần đất được đính chính của công văn số 613/CV-TINPHAT ngày 02/7/2023 của Công ty T2 và thống nhất với mảnh trích đo đã được đính chính. Cụ thể như sau: phần đất nguyên đơn yêu cầu mở lối đi có tổng diện tích là 227,5m², thửa 1605, tờ bản đồ số 10 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00053 cấp ngày 10/01/2006 do bà Đặng Ngọc M đứng tên, theo mãnh trích đo địa chính đã được đính chính ngày 02/7/2023 của công ty trách nhiệm hữu hạn T2.
[3] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp thì nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất là của ông Thái Văn N3 là ba ruột nguyên đơn bà Thái Thị N, ông Thái Văn N2 (chồng bà Đặng Ngọc M) cho lại ông Thái Văn N2 khi còn sống. Năm 2006, ông N2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi cho đất ông N2 trên phần đất đó đã có sẵn một lối đi gia đình bà N sử dụng từ rất lâu, đến khi ông N2 được tặng cho vẫn để bà N sử dụng làm lối đi. Theo nguyên đơn thì cho rằng, sau khi ông N2 chết thì bà M đăng ký đứng tên và rào lối đi lại, do không còn lối đi nào khác, nên kiện yêu cầu mở lối đi. Bị đơn thì cho rằng sau khi ông N2 chết nguyên đơn qua chửi và đòi tách bằng khoáng là lối đi ra cho nguyên đơn, bị đơn không đồng ý và có kêu nguyên đơn sang hết phần đất nhưng nguyên đơn không sang, do tranh chấp nên bị đơn rào lại, bị đơn cũng thừa nhận ngoài con rạch Nhà nước ra thì đường bộ không còn con đường nào khác để nguyên đơn đi bộ ra đường công cộng; Do có nhu cầu bán hết phần đất để trả nợ ông N2 khi chết để lại, nên không chấp nhận mở lối đi cho nguyên đơn, sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển nhượng phần đất.
[4] Xét căn cứ yêu cầu mở lối đi theo khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.”. Qua trình bày của các đương sự và chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ cho thấy, nguyên đơn có phần đất bị bao bọc bởi phần đất do bị đơn đứng tên tại thửa 1605, hiện trạng có một lối đi ra phần đất phía sau phần đất của bị đơn; Lối đi nằm giữa thửa đất, các đương sự đều thừa nhận lối đi này đã tồn tại từ rất lâu trước khi ông Thái Văn N3 tặng cho ông N2. Tuy nhiên, nguyên đơn yêu cầu mở lối đi khác giáp với con rạch thuộc đất nhà nước, để tránh tình trạng chia đôi thửa đất của bị đơn, hiện trạng nguyên đơn yêu cầu được thể hiện trên mảnh trích đo địa chính đã được đính chính ngày 02/7/2023 của công ty trách nhiệm hữu hạn T2 có tổng diện tích là 277,5m². Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn cũng thừa nhận lối đi hiện hữu đã tồn tại từ trước khi ông N3 tặng cho phần đất cho ông N2 và thừa nhận nguyên đơn không có lối đi nào khác đi bộ từ đường công cộng vào phần đất trồng sầu riêng của nguyên đơn.
[5] Nhận thấy, mặc dù thửa đất nguyên đơn yêu cầu mở lối đi là do bị đơn đứng tên; Tuy nhiên phần đất có nguồn gốc từ ông Thái Văn N3 trước khi tặng cho ông Thái Văn N2 chồng của bị đơn, ông N3 cũng đã tạo điều kiện cho con gái là Thái Thị N mở lối đi và phần đất của bà N và sau khi tặng cho ông N2 vẫn để nguyên đơn sử dụng, chỉ sau khi ông N2 chết thì bà M vợ ông N2 với nguyên đơn phát sinh tranh chấp và bà M đã rào lại phần lối đi làm ảnh hưởng đến đến quyền lợi của nguyên đơn, đi ngược lại ý chí của ông N3 và ông N2 khi còn sống, ảnh hưởng đến quyền khai thác canh tác phần đất phía trong của nguyên đơn; Bị đơn là dâu người hưởng lợi từ phần đất của cha chồng để lại, nhưng không tạo điều kiện cho chị chồng có lối đi để khai thác, canh tác phần đất bị bao bọc là không hợp đạo lý, không phù hợp với ý chí nguyện vọng của người để lại đất. Xét thấy phần đất của nguyên đơn được bao bọc bởi phần đất của bị đơn đứng tên quyền sử dụng đất dẫn ra lối đi công cộng và nguyên đơn cũng đã chủ động yêu cầu một lối đi khác thuận tiện nhất không làm ảnh hưởng lớn đến phần đất của bị đơn và diện tích yêu cầu không lớn cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý mở lối đi chung cho cả nguyên đơn và bị đơn và chịu trả toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất cho bị đơn theo giá thị trường; yêu cầu của nguyên đơn là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với ý chí của ông Thái Văn N3 và ông Thái Văn N2 khi còn sống; Do đó, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
Do diện tích điều chỉnh lớn hơn so với mảnh trích đo ngày 05/6/2023 nên giá trị quyền sử dụng đất cũng lớn hơn; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng thư thẩm định giá số 183/BĐS ngày 24/7/2023 của Công ty cổ phần T3 để làm căn cứ xác định giá. Cụ thể, giá đất mở lối đi được tính như sau: 227,5m² x 195.000 đồng/m² = 44.362.500 đồng. Như vậy, tổng số tiền nguyên đơn có nghĩa vụ trả giá trị về đất cho bị đơn là 44.362.500đ.
[6] Từ những nhận định trên xét thấy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và nhận đề nghị của Đại diện kiểm sát nhân dân tỉnh H; Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 245, Điều 248, Điều 254, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 171, Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thái Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Trọng N1.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thái Thị N.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 70/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Tuyên xử:
- Công nhận phần đất có tổng diện tích là 227,5m², một phần thửa 1605, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00053 cấp ngày 10/01/2006 do bà Đặng Ngọc M (Đ) đứng tên; Theo mảnh trích đo địa chính số 12 ngày 02/7/2023 của công ty trách nhiệm hữu hạn T2 dùng làm lối đi chung cho nguyên đơn bà Thái Thị N và bị đơn Đặng Ngọc M (Đời). Buộc Đặng Ngọc M (Đời) và Thái Huyền C (Nhì) cùng thành viên hộ gia đình bà M giao lại phần đất và tháo dỡ, di dời toàn bộ cây trồng, vật kiến trúc, phần tài chắn lối đi trên diện tích 227,5m² công nhận sử dụng chung làm lối đi.
(Có mảnh trích đo địa chính số 12 ngày 02/7/2023 của công ty trách nhiệm hữu hạn T2 kèm theo)
- Thủ tục đăng ký quyền sử dụng hạn chế thửa đất trên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Buộc Ngân hàng N5 và Ngân hàng N5, chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang đại diện theo ủy quyền giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00053 cấp ngày 10/01/2006 do bà Đặng Ngọc M (Đời) khi đương sự có yêu cầu đăng ký quyền sử dụng hạn chế thửa đất theo quy định của pháp luật.
- Buộc nguyên đơn bà Thái Thị N trả cho bị đơn Đặng Ngọc M (Đời) giá trị quyền sử dụng đất là 44.362.500đ (Bốn mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm đồng) theo chứng thư thẩm định giá đất số 183/BĐS, ngày 24/7/2023 của Công ty T3.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn Đặng Ngọc M (Đời) phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).
- Nguyên đơn Thái Thị N phải chịu 5% giá trị quyền sử dụng đất là: 2.218.125₫ (Hai triệu hai trăm mười tám ngàn một trăm hai mươi lăm đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0010952, ngày 22/02/2023 và biên lai thu tiền số 0011254, ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án huyện C, tỉnh Hậu Giang thành án phí; Nguyên đơn còn phải nộp thêm 1.418.125đ (Một triệu bốn trăm mười tám ngàn một trăm hai mươi lăm đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ú, ông Huỳnh Trọng N1, bà Huỳnh Thị D, nguyên đơn Thái Thị N, mỗi người được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo thứ tự biên lai thu số 0011365, 0011367, 0011366, 0011368 ghi cùng ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Chi phí tố tụng sơ thẩm: là 7.400.000₫ (Bảy triệu bốn trăm ngàn đồng) nguyên đơn Thái Thị N đã nộp tạm ứng. Buộc nguyên đơn Thái Thị N và bị đơn Đặng Ngọc M (Đời) mỗi người phải chịu 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng); Nguyên đơn Thái Thị N được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp. Buộc bị đơn Đặng Ngọc M (Đ) phải chịu 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng) nộp hoàn trả lại nguyên đơn Thái Thị N.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 08/8/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 136/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Số bản án: 136/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xem xét mở lối đi qua đất bị đơn cho nguyên đơn.
