|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 136/2024/DS-PT
Ngày: 06/9/2024
Về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thủy và ông Hoàng Văn Giang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2024/TLPT - DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 160/QĐPT - DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hà Văn L, sinh năm 1960, (có mặt);
Nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Trần Lan A, Luật sư công ty L5 chi nhánh T3, (Có mặt).
Bị đơn: Ông Hà Sỹ L1, sinh năm 1944; (Có mặt);
Nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hà Xuân H, sinh năm 1980, (Có mặt);
Nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Xuân H, sinh năm 1980, (Có mặt);
- Chị Ma Thị T, sinh năm 1983, (Có đơn xin vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1958, (Có đơn xin vắng mặt);
- Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1962, (Vắng mặt);
- Ông Hà Văn P, sinh năm 1964, ( Vắng mặt);
- Ông Hà Quang C, sinh năm 1967, ( Vắng mặt);
- Bà Hà Thị C1, sinh năm 1956, ( Vắng mặt);
- Anh Hà Triệu D, sinh năm 1984, (Có mặt);
- Anh Hà Văn P1, sinh năm 1986, (Vắng mặt);
- Bà Triệu Thị L3, sinh năm 1962, ( Vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Bà Hà Thị G, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện P, ( Vắng mặt);
- Bà Hà Thị T1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, ( Vắng mặt);
- Anh Hà Quý S, sinh năm 1978; thường trú tại: Xóm C, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, (Có đơn xin vắng mặt);
Người làm chứng: Ông Hà Quang C; ông Vi Văn L4, ông Vi Văn T2, ông Đào Đình Q, ông Phùng Thanh P2, ông Hà Văn B; Cùng nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Đều vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Hà Văn L trình bày:
Bố ông là Hà Quý V, mẹ ông là La Thị X có một mảnh đất trồng 2 búi (bụi) tre và 1 búi ngà ở thửa 380 tờ bản đồ 37 (bản đồ 299) xã Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc mảnh đất này là bố mẹ ông được ông nội ông là Hà Văn S1 cho. Ranh giới 3 mặt giáp khe và mương, một mặt giáp đất của ông L1. Các bụi tre và ngà do ông Hà Văn S1 trồng từ trước rồi cho bố mẹ tôi sử dụng. Năm 1989, bố ông chết, mẹ ông tiếp tục sử dụng tre ngà ở khu vực này. Sau khi bố ông chết, mẹ ông tiếp tục sử dụng đến năm 2004 khi nhà nước tiến hành đo đạc bản đồ địa chính, phần đất này đã bị đo bao vào thửa 117, tờ bản đồ 73, diện tích 1550m2 của ông L1. Mẹ ông đã có đơn đề nghị xóm giải quyết tranh chấp ranh giới nhưng chưa xong. Sau đó mẹ ông cho ông phần đất này (nói miệng) cùng tài sản là các bụi tre và bụi ngà trên đất. Ông vẫn quản lý sử dụng tre, ngà từ đó đến năm 2021 - 2022 thì ông L1 chặt phá các búi tre, ngà và san lấp diện tích đất này. Ông đã đề nghị UBND xã giải quyết nhưng không thành. Do đó ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông L1 trả cho ông phần đất trước đây có 02 búi tre và 01 búi ngà. Ban đầu khi khởi kiện ông không đo vẽ được diện tích cụ thể nên chỉ ước chừng diện tích đất tranh chấp rộng khoảng 500 – 700m2 nhưng khi Toà án xem xét thẩm định tại chỗ, ông tự chỉ mốc giới phần đất tranh chấp để dùng máy đo vẽ thì diện tích là 946,5m2 tại thửa 117 tờ bản đồ 73 xã Đ.
Do vậy ông đề nghị Tòa án buộc ông Hà Sỹ L1 trả lại cho ông diện tích đất 946,5m2 này. Các tài sản trên đất tranh chấp gồm một số cây ăn quả và một phần công trình chăn nuôi (chuồng vịt) của anh H ông đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Đối với 2 búi tre và một búi ngà đã bị phá bỏ nay không còn do vậy ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn là ông Hà Sỹ L1 và người đại diện theo ủy quyền của ông Hà Sỹ L1 và anh Hà Xuân H trình bày:
Bố ông chết sớm nên việc phân chia đất đai do chú ruột ông là Hà Quý V (bố ông L) đứng ra thực hiện. Trước đây ông sinh sống ở tỉnh Yên Bái nên phần đất của ông, ông V giao cho anh Hà Văn B là con trai lớn của ông. Năm 1987 ông L1 cùng gia đình vợ con chuyển từ tỉnh Yên Bái về xã Đ, huyện P sinh sống và được chú ruột ông là Hà Quý V (bố ông L) giao lại đất tại vị trí đất đang ở hiện nay tại xóm L, xã Đ. Anh Hà Văn B cũng nhất trí không ý kiến gì. Tứ cận của thửa đất ông V giao cho ông 3 mặt giáp mương và khe, một mặt giáp đất ông L1, gia đình ông sử dụng đất ổn định từ năm 1987 không tranh chấp với ai. Năm 1996 các ban ngành của xóm có đo đất cho gia đình ông. Ngày 07/7/1997 ông đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0464485 đối với thửa đất số 380 tờ bản đồ 37 diện tích 2140m2 bao gồm 400m2 đất thổ cư và 1740m2 đất vườn tạp (nay theo bản đồ địa chính gồm hai thửa 117 diện tích 1550m2 và thửa 476 diện tích 961m2).
Trong quá trình sử dụng đất, khi ông Hà Quý V khi còn sống cũng không tranh chấp đất gì với ông. Gia đình ông V, bà X có sử dụng, khai thác 02 bụi tre và 01 bụi ngà ở phía mỏm đất giáp khe nước và mương nước. Năm 1996, khi đo đạc lại diện tích đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại biên bản đo đất thổ cư ngày 01/10/1996 của xóm, ông đã đồng ý tạm cắt diện tích 140m2 (rộng 7m, dài 20m) để bà X tiếp tục khai thác phần đất có bụi tre và bụi ngà, sau này chặt tre, ngà đi thì bà X phải trả lại đất cho gia đình ông.
Khoảng năm 2003-2004 đo đạc bản đồ địa chính ông và gia đình bà X, ông L không tranh chấp gì. Nhưng cuối năm 2004 bà X có đơn đề nghị xóm giải quyết tranh chấp ranh giới tại khu đất có bụi tre và bụi ngà. Các ban ngành của xóm đã hoà giải nhưng bà X không ký biên bản. Sau đó ông không biết việc bà X cho ông L bụi tre, ngà như thế nào. Nhưng từ sau năm 2004 búi tre và búi ngà vẫn để rậm rạp. Đến năm 2022, búi tre và búi ngà đã quá già bị đổ xuống phần đất canh tác nên gia đình gia đình ông đã cho máy xúc phá bụi tre và bụi ngà, san bằng phẳng như hiện nay.
Ông chỉ thừa nhận bố mẹ ông L khi còn sống chỉ có 02 búi tre và 01 búi ngà trồng nhờ trên đất của gia đình ông. Toàn bộ thửa đất số 380 tờ bản đồ 37 diện tích 2140m2 bao gồm 400m2 đất thổ cư và 1740m2 đất vườn tạp ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 (nay theo bản đồ địa chính gồm hai thửa 117 diện tích 1550m2 và thửa 476 diện tích 961m2) là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông. Vì vậy ông không đồng ý trả lại 946,5m2 tại thửa số 117 tờ bản đồ 73 ông Hà Văn L.
Ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hà Xuân H và chị Ma Thị T trình bày: Anh là con trai và con dâu của ông Hà Sỹ L1. Hiện nay anh đang ở chung với ông Hà Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2. Năm 2022, vợ chồng anh chị có xây một chuồng chăn nuôi vịt và trồng một số cây ăn quả trên thửa đất 117 tờ bản đồ 73 của ông L1. Hiện nay, phần đất ông L xác định tranh chấp có cắt vào chuồng vịt của vợ chồng anh 104,2m2 và một số cây ăn quả do anh trồng. Anh chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh chị có được bố anh đồng ý cho san lấp một phần thửa đất số 117 tờ bản đồ 73, trong đó có phần đất tranh chấp nhưng nay anh chị không yêu cầu xem xét phần công sức đóng góp này.
- - Anh Hà Quý S trình bày: Anh là con trai của ông Hà Sỹ L1. Năm 2004, cơ quan thẩm quyền đo lại đất đai, bố anh có ý định chia cho anh một phần đất, chính là thửa 117 tờ bản đồ 73. Vì vậy đất trên bản đồ địa chính mang tên anh nhưng bố con anh chưa làm thủ tục gì để tách quyền sử dụng đất. Năm 2006, anh chuyển đi nơi khác sinh sống nên không lấy thửa đất đó nữa. Do đó thửa đất này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố anh. Nay ông Hà Văn L tranh chấp đất với bố anh, anh S xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan gì đến thửa đất này, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
- - Bà Nguyễn Thị L2 trình bày: Bà là vợ của ông Hà Sỹ L1. Bà và ông L1 đang sinh sống trên thửa đất mà ông L khởi kiện tranh chấp. Bà nhất trí với ý kiến của chồng là ông L1. Bà không đề nghị xem xét giải quyết yêu cầu gì khác.
- - Ông Hà Văn Đ, ông Hà Văn P, ông Hà Quang C, bà Hà Thị C1, bà Hà Thị T1, bà Hà Thị G (là các anh chị em ruột của ông L) đều trình bày: Mảnh đất đang tranh chấp là mẹ (bà La Thị X) cho ông Hà Văn L từ khi còn sống, việc cho nhận chỉ nói miệng, các ông bà hoàn toàn nhất trí cho ông L và xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Bà Triệu Thị L3 và anh Hà Văn P1, anh Hà Triệu D: Đều xác định thửa đất có tre và ngà nguồn gốc là do bà X cho cả gia đình, do đó đều đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L. Bà L3, anh P1, anh D đều xác định không có công sức đóng góp gì đối với đất tranh chấp.
Những người làm chứng trình bày:
- - Ông Hà Quang C trình bày: Bố mẹ ông khi còn sống có một búi ngà ở góc ngoài cùng giáp mương và 02 búi tre ở phía trong (giáp khe suối to) là do ông nội tôi để lại. Sau khi ông L1 về sống ở đó bố mẹ ông thỏa thuận với ông L1 là để bố mẹ tôi sử dụng phần đất có các búi tre và búi ngà, diện tích ông ước chừng khoảng 200m2. Nay ông L xác định phần đất bố mẹ để lại cắt vào 2/3 chuồng vịt của anh H là không đúng. Bố mẹ ông chỉ có một phần đất giáp mương chỗ có búi tre, búi ngà.
- - Ông Vi Văn L4 trình bày: Ông không nhất trí làm chứng theo đề nghị của ông L.
- - Ông Vi Văn T2 trình bày: Năm 1996 ông là trưởng xóm Làng Chảo, xã Đ. Tại biên bản đo đất thổ cư ngày 01/10/1996 ông có tham gia đo đạc, biên bản là do ông viết, vị trí 140m2 đất tạm cắt cho bà X nêu trong biên bản có vị trí giúp mương nước nhỏ, trên đất có bụi tre và ngà của bà X.
- - Ông Đào Đình Q trình bày: Năm 2004 ông là trưởng xóm, khi đo đạc bản đồ địa chính giữa bà X và ông L1 không tranh chấp gì. Vì nếu có tranh chấp thì sẽ không tiến hành đo đạc. Theo tập tục ở địa phương, có trường hợp đất của một người nhưng cây cối là của người khác và những trường hợp này thường là người thân thích họ hàng. Búi tre và búi ngà của bà X là do cha ông trồng từ trước để lại gia đình bà X sử dụng, nhưng phần đất có búi tre búi ngà lại cho ông L1 sử dụng. Khi đo đạc hai bên đều thống nhất không tranh chấp đất, nhưng sau khi có bản đồ bà X lại có đơn đề nghị giải quyết nên xóm tiến hành hòa giải nhưng không thành.
- - Ông Phùng Thanh P2 trình bày: Năm 2004 ông là đại diện ban mặt trận xóm tham gia hòa giải tranh chấp đất giữa bà X và ông L1 nhưng bà X không ký biên bản. Khi còn sống bố ông L (ông Hà Quý V) có nói tại phần đất ông L1 đang ở ông V không có đất, chỉ có búi tre, búi ngà, sau này chặt đi là hết.
- - Anh Hà Văn B trình bày: Anh là con trai lớn (con riêng với vợ trước) của ông L1. Khoảng năm 1984 -1985 do bố anh ở tỉnh Yên Bái nên ông chú (ông Hà Quý V) có giao cho anh một khu đất của ông nội anh (cụ S1) để lại. Ranh giới bao gồm toàn bộ khu vực búi tre, búi ngà ở giáp mương, giáp khe ông L đang đòi hiện nay. Đến năm 1987 anh đi bộ đội, bố anh đưa gia đình về sinh sống tại đây, nên khi ra quân anh đã chuyển về sống với mẹ ở khu vực khác. Việc bố anh chuyển về sinh sống tại khu đất này anh nhất trí không tranh chấp gì. Nay anh xác định không còn liên quan gì đến thửa đất bố anh đang ở cũng như khu vực tranh chấp.
Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Diện tích đất tranh chấp là 946,5m2 tại thửa 117 tờ bản đồ địa chính số 73 xã Đ, theo vị ví các điểm “ABCDEFGHIJKLMNOPA”, loại đất vườn tạp. Trên đất có 13 cây bưởi đường kính gốc trung bình từ 5-8cm/cây; 03 cây mít đường kính gốc trung bình từ 3-8cm/cây; 03 cây xoan đường kính gốc trung bình 12cm/cây; 03 cây na; 02 cây cọ xẻ, 02 búi tre và 01 búi ngà (đã chặt phá, san lấp, chỉ còn một số gốc cũ); và 01 chuồng vịt lợp mái proximang, tường xây gạch xilicat dày 10cm, nền láng xi măng, đổ cột bê tông, bao quanh bằng lươi thép B40, trải sàn bằng lưới thép và lưới nhựa .
Theo kết quả định giá tài sản: Tổng giá trị đất và tài sản trên đất tranh chấp là 102.485.738 đồng. Trong đó: Đất tranh chấp có giá 946,5m2 x 51.000 đồng = 48.271.500 đồng. Giá trị tài sản trên đất tranh chấp là 54.265.438 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ Điều 26; Điều 35 và Điều 39, Điều 147, 155, 156, 163, 164 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 95, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn L về việc đòi ông Hà Sỹ L1 trả lại diện tích 946,5m2 tại thửa 117, tờ bản đồ địa chính 73 xã Đ theo sơ đồ ABCDEFGHIJKLMNOPA (theo bản vẽ hiện trạng do công ty cổ phần Đ2 và bản đồ Thái An đo vẽ, kèm theo bản án).
- Về chi phí tố tụng: Ông Hà Văn L phải chịu 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ và chi phí định giá tài sản (đã thanh quyết toán xong).
Ngoài ra bản án còn xử lý về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 23/4/2024 ông Hà Văn L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất do ông Hà Văn L khởi kiện yêu cầu ông Hà Sỹ L1 trả lại diện tích 946,5m2 đất tại thửa 117 tờ bản đồ địa chính số 73 xã Đ, vụ án đã được UBND xã Đ, huyện P tiến hành hoà giải nhưng biên bản hoà giải tại địa phương không ghi ngày tháng tiến hành hoà giải, không có chữ ký của chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã Đ. Toà án đã tiến hành xác minh làm rõ, kết quả xác minh cho thấy: Ngay sau khi ông L có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai với ông L1, ngày 27/3/2022 UBND xã Đcó quyết định số 509/QĐ-UBND quyết định thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai (BL: 10), tuy nhiên biên bản hòa giải ngày 02/4/2022 có mặt ông Hoàng Thanh Đ1 là Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã Đ nhưng do sơ suất của cán bộ ghi biên bản nên trong biên bản thiếu chữ ký của ông Hoàng Thanh Đ1 và không ghi ngày tháng; Tại các biên bản xác minh (BL: 129, 130, 131) trong hồ sơ thể hiện sau khi nắm bắt được nội dung, kết quả hòa giải không thành, các thành viên tham gia có việc đột xuất nên đi trước và sơ suất chưa ký biên bản hòa giải; Ngoài ra, các bên đương sự trong vụ án đều xác nhận có nội dung hòa giải tranh chấp đất đai vào hồi 8h ngày 02/4/2022 là đúng thực tế sự việc;
Hội đồng xét xử thấy rằng việc thiếu sót trong biên bản hoà giải như trên không ảnh hưởng đến bản chất của vụ việc, và không ảnh hưởng đến điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, việc đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng cần hủy bản án sơ thẩm để UBND xã Đ tiến hành hòa giải lại là không cần thiết, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng thời gian, công sức của các bên đương sự và không phải là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.
Do vậy căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 202 Luật đất đai năm 2013 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Trong vụ án này, bị đơn không có yêu cầu phản tố, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
Các anh chị em ruột của ông L là bà C1, ông P2, ông Đ, ông C, bà G, bà T1 đều thừa nhận búi tre, búi ngà là của bố mẹ để lại. Sau khi ông Hà Quý V chết năm 1989 thì bà X tiếp tục quản lý sử dụng, sau đó bà X cho ông L, các anh chị em trong gia đình đều nhất trí. Do đó ông L có quyền khởi kiện vụ án.
- Đơn kháng cáo của bị đơn phù hợp quy định tại điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung:
2.1 Ban đầu theo đơn khởi kiện ông Hà Văn L đề nghị Toà án buộc ông Hà Sỹ L1 trả lại diện tích khoảng 400m2 – 500m2 nằm tại thửa 380 tờ bản đồ 37 (bản đồ 299) nay là thửa 117 tờ bản đồ địa chính 73 thuộc xóm Làng Chảo, xã Đ. Khi xem xét thẩm định tại chỗ ông L tự xác định các mốc giới phần đất tranh chấp, kết quả diện tích đất tranh chấp tăng lên là 946,5m2.
Ông Hà Sỹ L1 xác định phần đất tranh chấp trên nằm trong thửa 380 tờ bản đồ 37 (bản đồ 299) diện tích 2140m2 ông đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997. Năm 2004 khi đo đạc bản đồ địa chính, do có ý định tách cho con trai là anh Hà Quý S một phần nên ông đã dẫn đạc cho cán bộ đo đạc tách khu vực đất đang ở thành hai thửa 117 tờ bản đồ 73 diện tích 1.550m2 và thửa 476 diện tích 961m2.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ, đối chiếu bản đồ địa chính xã Đ đo đạc năm 2004 và bản đồ 299 đo đạc năm 1986 cho thấy trên bản đồ 299, tờ bản đồ số 37 không thể hiện thửa 380 như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân huyện Phú Lương đã có công văn đề nghị cơ quan cấp giấy chứng nhận là UBND huyện P làm rõ vấn đề này.
Tại công văn trả lời số 308/-UBND-TNMT ngày 05/02/2024, UBND huyện P nêu “Thửa đất 380 tờ bản đồ 37 diện tích 2140m2 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất E0464485, cấp ngày 07/7/1997 mang tên ông Hà Sỹ L1 được UBND huyện P phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 91/QĐ-UB căn cứ vào Tờ trình và đề nghị của Hội đồng đăng ký đất đai xã Đ; đồng thời thửa 380 tờ bản đồ 37 đã được chỉnh lý trên hồ sơ địa chính do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P cung cấp (sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997, trên địa bàn xã Đ căn cứ vào tài liệu bản đồ đo đạc năm 1985 (bản đồ 299), ngoài ra không có tài liệu nào khác; Thửa 380 tờ bản đồ 37 diện tích 2140m2 chưa được thể hiện trên bản đồ 299 xã Đ đo đạc năm 1985 nhưng qua kiểm tra xác minh hộ ông Hà Sỹ L1 chỉ có một chỗ ở duy nhất tại xóm Làng Chảo, xã Đ và được xác định tại thửa 117 diện tích 1550m2 và thửa 476 diện tích 961 m2 tờ bản đồ địa chính số 73”.
Như vậy, vị trí đất tranh chấp hiện nay được xác định là 946,5m2 đất vườn tạp tại thửa 117 tờ bản đồ địa chính 73 thuộc xóm Làng Chảo, xã Đ tức thửa 380, tờ bản đồ 37 bản đồ 299. Ông L yêu cầu Toà án buộc ông L1 trả lại ông phần đất này, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
2.2 Xem xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp thì thấy:
Theo ông L trình bày, nguồn gốc toàn bộ phần đất hiện nay ông L1 sử dụng là do bố anh tức ông Hà Quý V giao cho anh Hà Văn B. Khi đó ông L1 vẫn sinh sống ở tỉnh Yên Bái. Khi ông L1 về sinh sống tại đây, bố mẹ ông đã có 02 búi tre, 01 búi ngà 3 mặt giáp khe và mương, một mặt giáp bãi chè của ông L1. Và có ranh giới riêng rẽ, bố mẹ ông có đóng thuế đối với thửa đất này. Ông L cho rằng phần đất có tre và ngà này không nằm trong diện tích 2140m2 ông L1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo anh Hà Văn B trình bày thì trước khi bố anh là ông Lâm c từ Yên Bái về Thái Nguyên, ông V (bố ông L) có cho anh phần khu đất mà hiện nay bố anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm cả khu vực có bụi tre, bụi ngà, giáp với mương nước. Ông V cũng nói với anh là không có đất ở đây, chỉ trồng nhờ tre ngà để lấy cây que sử dụng. Nhưng sau khi đi bộ đội về bố anh chuyển về sống tại đây nên anh chuyển về sống cùng mẹ ở địa điểm khác. Anh xác định toàn bộ các thửa đất bố anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc quyền sử dụng của bố anh, anh không tranh chấp gì.
Ông L1 khai nguồn gốc đất trước đây đúng là của ông V (bố ông L) chia cho anh B (con riêng của ông), nhưng năm 1987 ông cùng gia đình chuyển từ Yên Bái về T tại đây, anh B nhất trí không ý kiến gì. Năm 1996 xóm đã đo đạc đất cho ông, đến năm 1997 ông được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông chỉ có một chỗ ở duy nhất, sinh sống ổn định từ năm 1987 đến nay. Khi chuyển về sinh sống ở đây thì đã thấy gia đình ông L sử dụng 02 bụi tre và 01 bụi ngà ở mỏm đất giáp mương và khe. Nhưng khi bố ông L (tức ông Hà Quý V) còn sống cũng xác định chỉ trồng nhờ tre và ngà để lấy cây que sử dụng chứ đất là của ông. Nhưng sau khi ông V chết, bà X lại tranh chấp đất với ông.
Như vậy về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất, Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của ông L1, phù hợp với lời khai của anh B, phù hợp với lời khai của ông L. Các bên cũng đều khai thống nhất việc bà X có sử dụng tre, ngà ở vị trí cuối thửa đất giáp mương, giáp khe hiện nay. Tuy nhiên ông L cho rằng bà X có cả cây và đất, còn ông L1 thì xác định bà X chỉ có cây cối. Các bên còn có sự mâu thuẫn trong việc xác định phần đất 2140m2 ông L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 có bao gồm diện tích đất có búi tre, búi ngà của bà X không, có bị đo bao hay không.
2.3 Xem xét tài liệu chứng cứ thấy rằng:
Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy năm 1997 ông L1 được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa 380 tờ bản đồ 37 diện tích 2140m2. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật đất đai năm 1993. Tính đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông L1 đã sinh sống tại xóm L, xã Đ khoảng 10 năm. Nên tuy thửa đất 380, tờ bản đồ 37 không thể hiện trên bản đồ 299 nhưng UBND huyện P là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã kiểm tra xác minh và xác định hộ ông Hà Sỹ L1 chỉ có một chỗ ở duy nhất tại xóm Làng Chảo, xã Đ từ năm 1987 đến nay. Do đó có cơ sở xác định thửa 380 tờ bản đồ 37 là thửa 117 diện tích 1550m2 và thửa 476 diện tích 961 m2 tờ bản đồ địa chính số 73 đo đạc năm 2004 có mốc giới đo đạc.
Xem xét các tài liệu ông L cung cấp gồm Biên bản đo đạc đất thổ cư ngày 01/10/1996 (bản phô tô); Biên bản hoà giải ngày 10/12/2004 (bản phô tô) của đại diện chính quyền xóm Làng Chảo lập. Tuy nhiên các tài liệu trên đều là là bản sao (phô tô), không cung cấp được bản chính. Toà án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Đ cũng không có tài liệu thể hiện năm 2004 có vụ việc tranh chấp giữa bà X và ông L1.
Hơn nữa về nội dung biên bản đo đất năm 1996 ông L và ông L1 cũng không thống nhất được cách hiểu. Ông L1 thì xác định vị trí tạm cắt 140m2 nêu trong biên bản đo đạc năm 1996 chính là khu vực có búi tre, ngà đang tranh chấp hiện nay. Nhưng ông L lại cho rằng 140m2 tạm cắt đó là ở vị trí khác.
Xét thấy các đương sự đều không cung cấp được bản chính, theo quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự thì “tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp” do đó Hội đồng xét xử đánh giá Biên bản đo đạc đất thổ cư ngày 01/10/1996 (bản phô tô); Biên bản hoà giải ngày 10/12/2004 (bản phô tô) ông L cung cấp không đủ điều kiện để xác định là chứng cứ.
Người làm chứng do ông L đề nghị triệu tập là ông Vi Văn L4 từ chối làm chứng cho ông L.
Xét lời khai của một số người làm chứng khác thấy rằng: Ông Phùng Thanh P2 khai “khi ông Hà Quý V còn sống cũng nói với ông P2 là ông V không có đất ở khu vực này, mà chỉ sở hữu cây cối trên đất”. Ông Vi Văn T2 nguyên là trưởng xóm giai đoạn năm 1996 cho biết: Năm 1996 ông có được đo đất thổ cư hộ ông L1, ông L1 đồng ý tạm cho bà X sử dụng diện tích khoảng 140m2 ở vị trí mỏm đất giáp khe và mương (phần đất trên đó có búi tre, búi ngà của bà X). Ông Đào Đình Q nguyên là trưởng xóm giai đoạn 2004 cho biết, khi tiến hành đo đạc bản đồ địa chính, bà X và ông L1 không có tranh chấp gì. Theo tập tục địa phương có nhiều trường hợp đất của một người nhưng cây cối trên đất lại là của người khác trồng nhờ. Trường hợp của bà X và ông L1 là, búi tre, búi ngà là do ông cha trồng và để lại cho gia đình quản lý nhưng đất lại cho gia đình ông L1. Năm 2004 bà X và ông L1 thống nhất đất là của ông L1 nhưng búi tre, búi ngà ở giáp mương nước là của bà X. Nhưng sau khi đo đạc bản đồ xong bà X lại có đơn tranh chấp ranh giới, xóm hòa giải nhưng bà X không đồng ý. Anh Hà Văn B cũng xác định khi ông V (bố ông L) cho ông đất cũng bao gồm toàn bộ khu vực bố anh đang sử dụng hiện nay, gồm cả phần búi tre và búi ngà mà trước đây bà X sử dụng. Ông Hà Quang C là em trai ruột ông Hà Văn L cũng xác định, vị trí búi tre, búi ngà trước đây bố mẹ ông sử dụng ở vị trí mỏm đất giáp khe và suối, và không rộng như ông L khởi kiện. Bản thân ông L và những thành viên khác trong gia đình ông L cũng đều thừa nhận từ năm 2004 đến nay gia đình ông chưa bao giờ canh tác gì ở phần đất này mà chỉ chặt tre, ngà khi cần dùng đến.
Trong quá trình giải quyết, ông L không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh trước năm 2004 phần đất có búi tre và búi ngà là thửa đất riêng tách biệt không nằm trong 2140m2 đất của ông L1 và bố mẹ ông có đóng thuế đối với phần đất này.
Từ năm 1987 đến nay chính sách pháp luật đất đai cũng đã thay đổi qua các thời kỳ Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013, tuy nhiên bố mẹ ông L khi còn sống cũng như bản thân ông L từ năm 2004 đến nay cũng không làm bất kỳ thủ tục gì liên quan đến đăng ký quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp.
Xem xét ý kiến tranh luận của ông L cho rằng diện tích của ông L1 đang sử dụng hiện nay tăng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử nhận định: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hà Sỹ L1 theo đúng trình tự quy định, tuy trên tờ 37 bản đồ 299 không thể hiện thửa đất 380 diện tích 2140m2 nhưng vị trí đất không thay đổi. Việc diện tích đất theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2004 (gồm hai thửa 117 và 476, tổng diện tích 2.551m2) của ông L1 biến động tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 một phần do sai số do phương pháp đo đạc bản đồ qua các thời kỳ, ngoài ra còn biến động khác trong quá trình sử dụng đất. Vì vậy ông L cho rằng diện tích của ông L1 tăng vì đo bao cả 946,5m2 đất tranh chấp là không phù hợp và không có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết ông L không cung cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc bất kỳ giấy tờ gì khác chứng minh về quyền sử dụng đất của bố mẹ ông hoặc của ông đối với thửa 117 tờ bản đồ địa chính 73 hiện nay cũng như thửa 380 tờ bản đồ 37 (bản đồ 299) cũ.
2.4. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích các quy định của pháp luật về đất đai, hòa giải trên cơ sở nguồn gốc đất, phong tục tập quán ở địa phương, kết quả phía bị đơn đã nhất trí cho ông L được sử dụng khoảng gần 250m2 đất vườn tạp tại khu vực gốc tre và gốc ngà, giáp mương nước (kéo từ điểm H đến trung điểm đoạn ON trong sơ đồ bản vẽ hiện trạng) nhưng ông L không đồng ý, vẫn kiên quyết đòi toàn bộ diện tích 946,5m2.
2.5. Từ các phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn L về việc buộc ông Hà Sỹ L1 trả lại ông diện tích 946,5m2 đất tại thửa 117 tờ bản đồ 73 xã Đ theo sơ đồ ABCDEFGHIJKLMNOPA (tại bản vẽ hiện trạng) là không có cơ sở chấp nhận. Trên đất tranh chấp có một số cây cối tài sản của anh Hà Xuân H, tuy nhiên xét thấy do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận do đó không ảnh hưởng đến tài sản trên đất nên không đặt ra xem xét.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án có các chi phí tố tụng gồm: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản, chi phí đo đạc: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên cần buộc ông Hà Văn L phải chịu 7.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng và 3.500.000 đồng chi phí định giá tài sản (ông L đã nộp và thanh quyết toán xong).
[4] Về án phí:
Về nguyên tắc yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Hà Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng: Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở không đủ thành phần tham gia hòa giải, không đủ điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Xét thấy vấn đề hòa giải tại UBND cấp xã có thiếu sót thành phần ký biên bản tham gia hòa giải tại cơ sở, sơ suất này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh làm rõ, như đã nêu tại mục [1] về thủ tục tố tụng, do đó không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn lại cho rằng diện tích đất tranh chấp là 140 m2 đã lập biên bản tại xóm L, xã Đ, huyện P ngày 01/10/1996 là đất thổ cư nằm trong khuôn viên đất thổ cư của ông L1 đang sử dụng, nhưng lại không xác định được vị trí ở đâu, thuộc lô thửa, tờ bản đồ nào, mốc giới ở đâu và cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, nên không có căn cứ giải giải quyết.
[5] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật người cao tuổi năm 2009.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn L, giữ nguyên bản án số: 08/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hà Văn L.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 136/2024/DS-PT ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 136/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn L, giữ nguyên bản án số: 08/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên.
