|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 136/2024/HS-ST Ngày: 04-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Minh K, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1994; nơi sinh tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số H Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 8/12; con ông Đào Văn K1 và bà Trần Thị B; hiện đang chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thanh H và có 01 con sinh ngày 13-4-2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tạm giam từ ngày 29-4-2024 tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn M1, địa chỉ trụ sở: Thửa đất số C Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm 1993, địa chỉ: Số B đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; chức vụ: Giám đốc (vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Minh K và chị Nguyễn Thị Thanh H sống cùng nhau như vợ chồng, tuy nhiên chưa đăng ký kết hôn. Bản thân K và chị H đều là nhân viên của Công ty TNHH M1, địa chỉ: T đất số C Đ, phường L, thành phố N do anh Nguyễn Xuân M làm Giám đốc. Công ty TNHH M1 hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách bằng xe taxi và xe hợp đồng, lấy tên thương hiệu là taxi Hoàng S. Nhiệm vụ của chị H tại Công ty là tổng đài viên còn nhiệm vụ của K tại Công ty là lái xe taxi. Bản thân K được Công ty TNHH M1 giao cho 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota màu nâu vàng, BKS: 18A - 073.77 để đón và nhận khách.
Khoảng 20 giờ ngày 22-3-2024, trong quá trình sinh hoạt tại gia đình giữa K và chị H nảy sinh mâu thuẫn. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, chị H từ nhà đến Công ty để làm việc. Tại đây, chị H và K nhắn tin nói chuyện rồi tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. K đe dọa sẽ mang xe ô tô BKS: 18A - 073.77 là tài sản của Công ty đến Công ty M1 để đốt.
Khoảng 22 giờ 55 phút cùng ngày, K điều khiển xe ô tô BKS: 18A - 073.77 đến khu vực sân trước Công ty TNHH M1. K mở cửa xuống xe đứng cạnh cửa tay lái rồi lấy chiếc áo khoác dài tay vắt ở tựa lưng ghế lái và 01 chiếc bật lửa để ở hốc để đồ của xe ô tô rồi dùng bật lửa đốt chiếc áo. Khi chiếc áo bén lửa, K để chiếc áo trên ghế lái của xe ô tô, lửa lan ra làm chiếc xe cháy hoàn toàn. Sau đó, K cầm chiếc bật lửa đập xuống đất rồi rời khỏi hiện trường.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ một số đồ vật liên quan và thu giữ 01 đoạn video ghi lại sự việc.
Tại bản Kết luận giám định số 645/KLGĐ-KTHS ngày 08-4-2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 09-4-2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh N, kết luận:
- - Vùng cháy đầu tiên: Bên trong khoang lái xe ô tô BKS: 18A - 073.77.
- - Điểm xuất phát cháy: Tại khu vực ghế trước bên lái (bên trái) xe ô tô BKS: 18A-073.77.
- - Nguyên nhân cháy: Do sự tác động của con người đưa nguồn nhiệt từ bên ngoài vào làm cháy ghế trước bên lái (bên trái) xe ô tô BKS: 18A-073.77 sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 17-4-2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Toyota màu nâu vàng, số loại: Vios, dung tích: 1496, BKS: 18A073.77, SK: 9F32G5002064, SM: 2NRX059825, đăng ký ngày 04-10-2016 bị cháy, hư hỏng hoàn toàn. Thời điểm định giá ngày 22-3-2024 có trị giá 253.000.000 đồng (hai trăm năm mươi ba triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty TNHH M1 số tiền 300.000.000 đồng. Công ty TNHH M1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với chiếc xe ô tô BKS: 18A073.77 bị cháy hư hỏng hoàn toàn cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Xuân M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH M1.
Bản Cáo trạng số 135/CT-VKS-TP.NĐ ngày 14-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Đào Minh K về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đào Minh K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo Đào Minh K có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Minh K phạm tội : “Hủy hoại tài sản”;
- - Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 3 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đào Minh K từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù;
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ của bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đào Minh K nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Minh K, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đào Minh K, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các bản ảnh hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các vật chứng, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 55 phút ngày 22-3-2024, tại khu vực Công ty trách nhiệm hữu hạn M1, địa chỉ thửa đất số 350 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Đào Minh K đã có hành vi đốt xe ô tô BKS 18A-073.77 có giá trị 253.000.000 đồng thuộc sở hữu Công ty TNHH M1 làm chiếc xe cháy, hư hỏng hoàn toàn.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo hộ, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là bị pháp luật nghiệm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Theo kết quả định giá thì chiếc xe ô tô BKS 18A-073.77 của Công ty TNHH M1 có giá trị 253.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Hủy hoại tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Minh K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động để gia
đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đào Minh K không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Minh K là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Đào Minh K không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty TNHH M1 số tiền 300.000.000 đồng nay Công ty TNHH M1 không yêu cầu bồi thường gì thêm vì vậy vấn đề dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với các mảnh vỡ, bộ phận của chiếc bật lửa là công cụ K sử dụng để đốt hủy hoại chiếc xe ô tô không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí:
Bị cáo Đào Minh K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 178; Điều 47; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Đào Minh K phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đào Minh K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-4-2024.
- Xử lý vật chứng:
Tiêu hủy các mảnh vỡ, bộ phận của chiếc bật lửa (dạng bật lửa khò) có trong túi niêm phong mã số PS2A 039057. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-6-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
- Án phí:
Bị cáo Đào Minh K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Đào Minh K có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Đào Minh K có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Lương Thị Kim Huế
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 136/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Minh Khang huỷ hoại tài sản
