TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 136/2025/HS-ST Ngày: 23-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Đặng;
- Bà Nguyễn Kim Lý;
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Minh Đ, sinh năm 1992, tại Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1975 và bà Dương Thúy L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/6/2021, bị cáo bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo chưa nộp phạt.
Bị cáo bị bắt truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B (nay là P trại tạm giam khu vực B) từ ngày 23/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Liu L1, sinh năm 1979; địa chỉ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn C - Thửa đất số 1715, tờ bản đồ số 15, đường ĐT 748 thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Đức K, sinh năm 1983; HKTT: Tổ 1, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 22/8/2018). Yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Neáng Đa Q, sinh năm 2000; HKTT: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Phúc H1. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 02/2018, bị cáo Đỗ Minh Đ đến làm công nhân của xưởng 3, Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 thuộc khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ông Liu L1 (sinh năm 1979, quốc tịch Trung Quốc) là phó giám đốc của công ty TNHH L2. Trong quá trình làm việc, bị cáo không chuyên cần làm việc nên đến tháng 6/2018, ông Liu L1 yêu cầu bị cáo làm đơn xin nghỉ việc. Bị cáo đã làm đơn và được công ty cho bị cáo nghỉ việc từ tháng 6/2018. Do tức giận việc bị ông Liu L1 ép cho nghỉ việc nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/8/2018, khi ông Liu L1 đến kiểm tra hàng tại đầu chuyền A, xưởng 3 của Công ty TNHH L2. Khi ông Liu L1 vừa quay mặt lại thì bị cáo Đ lẻn vào Công ty TNHH L2 đi lại và dùng tay cầm một bình đựng nước đá bằng nhựa cứng màu đỏ bên trong có chứa trà đá đường của bà N Đa Quy để ở gần cửa ra vào xưởng 3 và đi lại chỗ ông Liu L1 đang đứng. Khi ông Liu L1 đang đứng vừa quay mặt lại phía bị cáo thì bị cáo cầm bình nước đá đánh 01 cái trúng vào đầu của ông Liu L1 làm ông Liu L1 choáng váng té ngã nằm xuống đất. Bị cáo tiếp tục dùng tay, chân đánh, đạp vào vùng đầu và mặt ông Liu L1. Lúc này, ông Lê Phúc H1 đang đứng gần đó chạy lại can ngăn và đẩy bị cáo ra. Ông Liu L1 được ông H1 và bà Q đưa lên văn phòng công ty sơ cứu, còn bị cáo bỏ chạy ra khỏi xưởng, leo tường rào bỏ trốn. Sau đó, ông Liu L1 được mọi người đưa đến bệnh viện C1 thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cứu điều trị đến ngày 27/8/2018 thì xuất viện.
Ngày 22/8/2018, ông Võ Đức K là người đại diện theo ủy quyền của ông Liu L1 đến Công an phường T trình báo toàn bộ sự việc. Ngày 19/9/2018, ông Liu L1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và yêu cầu giám định thương tích. Công an phường T tiếp nhận tin báo sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra C2 (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương thụ lý theo thẩm quyền.
Theo tóm tắt hồ sơ bệnh án và giấy chứng nhận thương tích số 17-17 ngày 27/8/2018 của Bệnh viện C3 cung cấp: Thương tích của bệnh nhân Liu L1: Đa chấn thương phần mềm vùng trán trái + hạ chẩm cổ phải/Chấn thương sọ não; Dập não trán hai bên, nứt sọ trán trái.
Sau khi bị thương tích, bị hại ông Liu L1 điều trị xong và đã về nước Trung Quốc sinh sống nên không giám định được thương tích trên cơ thể. Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trưng cầu Cục C09B Bộ C4 giám định thương tích đối với ông Liu L1 qua hồ sơ bệnh án.
Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 409/KLTgTHS-C09B ngày 11/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Dập não trán hai bên
- Nứt sọ trán trái.
- Kết luận: Căn cứ thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Y, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích như sau:
- - Dập não trán hai bên: 31% (chương 2, Mục III.1)
- - Nứt sọ trán trái: 08% (C, Mục I.2.1)
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Liu L1 qua hồ sơ là 37%.
Vật chứng thu giữ: Đối với 01 một bình đựng nước đá bằng nhựa cứng màu đỏ, quá trình điều tra không thu giữ được.
Ngày 12/02/2025, bị hại ông Liu L1 nhập cảnh vào Việt Nam và đang làm việc tại Công ty TNHH C; địa chỉ: Thửa đất số 1715, tờ bản đồ số 15, đường ĐT 748 thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Liu L1 yêu cầu bị cáo Đỗ Minh Đ bồi thường số tiền 20.000.000 đồng tiền điều trị thương tích. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường số tiền trên.
Tại Cáo trạng số 33/CT- VKSBC ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Minh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên không đặt ra xét xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Liu L1 số tiền 20.000.000 đồng.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nhận thấy Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ông Liu L1 số tiền 20.000.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Do tức giận việc bị bị hại ông Liu L1 cho bị cáo nghỉ việc nên bị cáo muốn vào công ty để đánh gây thương tích cho bị hại. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho bị hại. Bị cáo xin gửi lời xin lỗi đến bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử mức hình phạt nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
* Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại (ông Liu L1) trình bày: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/8/2018, ông đang đứng làm việc trong công ty thì bị cáo Đỗ Minh Đ là công nhân cũ của công ty L3 rào vào công ty và đi đến lấy bình đựng nước đá để trước cửa xưởng của công ty TNHH L2 đánh từ phía sau vào đầu của ông, làm ông té xuống đất. Sau đó bị cáo Đ tiếp tục dùng tay, chân đánh, đạp vào vùng đầu và mặt ông Liu L1 gây thương tích. Ông đã nhận được thông báo kết quả trưng cầu giám định thương tích mà các bị cáo gây ra cho ông và ông đồng ý với kết luận giám định thương tích. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và ông yêu cầu bị cáo bồi thường tiền điều trị thương tích cho ông số tiền 20.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về hình phạt ông đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo mức hình phạt theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện của bị hại (ông Võ Đức K) trình bày: Vào khoảng ngày 21/8/2018 bị cáo Đỗ Minh Đ có dùng bình đựng nước đá và dùng dùng tay chân đánh, đạp vào người bị hại ông Liu L1 gây thương tích. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và ông Liu L1 yêu cầu bị cáo Đỗ Minh Đ bồi thường tiền điều trị thương tích số tiền 20.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông và ông Liu L1 để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bị hại ông Liu L1 không yêu cầu gì khác. Về hình phạt ông Liu L1 đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo mức hình phạt theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà Neáng Đa Q) trình bày: B đựng nước đá bằng nhựa cứng màu đỏ bị cáo dùng để đánh bị hại ông Liu L1 là của bà. Ngày 21/8/2018 bị cáo Đ tự ý sử dụng bình đựng nước đá của bà để đánh bị hại. B nước đá trên đã thất lạc. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án. Bà đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của bà trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng (ông Lê Phúc H1) trình bày: Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Minh Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/8/2018, tại nhà xưởng số 3 của công ty TNHH L2, cạnh đường DE1B & DE1, KCN M, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương bị cáo Đỗ Minh Đ có hành vi dùng bình nước đá bằng nhựa là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu và dùng tay, chân đánh, đạp vào vùng đầu và mặt ông Liu L1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 37%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 33/CT-VKSBC ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo Đ thực hiện là rất nghiêm trọng do có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 10 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong công việc với bị hại và coi thường sức khỏe của người khác mà đã sử dụng bình đựng nước đá là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu và dùng tay, chân đánh, đạp vào vùng đầu và mặt ông Liu L1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 37%. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên không xem xét.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 46; Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Minh Đ bồi thường cho bị hại ông Liu L1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Minh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Minh Đ phải chịu 1.000.000 (một triệu) đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2025).
- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 136/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 136/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Minh Đ
