Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 136/2025/HS-ST

Ngày: 23-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Quang Liêm
  2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn L, sinh năm 2000 tại An Giang; nơi thường trú: Tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ T1; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: Ngày 03/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 255/2023/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2024, chưa đóng án phí và nộp lại số tiền thu lợi bất chính; nhân thân: Ngày 08/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 24/2017/HSST). Ngày 26/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 15/2018/HSST), tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 01 năm 02 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2019, đã đóng án phí; tiền sự Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2025– Có mặt

- Bị hại: Ông Thạch Út N, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại: 111/21/19/15 L, phường T, Quận T, TP . – Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị N1, sinh năm: 1977 Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/01/2025, Trần Văn L (tên gọi khác là P) xin vào làm nhân viên cắt chỉ cho anh T2 Út Nhân tại địa chỉ số A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, tiền công mỗi tháng là 6.000.000 đồng, bao ăn ở tại địa chỉ trên. Trong quá trình làm việc, L lấy tên là “Phước”, anh N không kiểm tra các giấy tờ tùy thân của L. Đồng thời, L thấy anh N thường để xe máy hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 84AD-024.49 trước nhà nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên để bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/01/2025, L thấy anh N dắt xe máy biển số 84AD-024.49 ra trước cửa nhà số A L, phường T, quận T (phía bên phải hướng từ ngoài nhìn vào). Sau đó, anh N điều khiển xe máy hiệu Honda SH đi đâu không rõ. Ngay lúc này, L đi đến bàn máy may tại tầng trệt gần cuối nhà, dùng tay phải lấy chìa khóa xe máy biển số 84AD-024.49 để trên bàn máy may rồi L lén lút đi ra chỗ để xe máy biển số 84AD-024.49, cắm chìa khóa vào ổ khóa, lên xe nổ máy định chạy ra đường L để tẩu thoát. Lúc này, chị Thạch Thị N2 (chị ruột anh N) đứng trên lầu thấy L lấy xe máy biển số 84AD-024.49 nên hỏi L đi đâu thì L trả lời đi ăn sáng nên chị N2 quay vào trong nhà dọn dẹp thì L liền điều khiển xe chạy đi. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, anh N quay về nhà, phát hiện xe đã bị mất nên anh N trình báo sự việc.

Sau khi trộm được xe, L tìm kiếm người bán xe để lấy tiền nhưng xe không có giấy tờ nên chưa bán được. Đến 19 giờ 00 phút ngày 23/01/2025, L điều khiển xe máy biển số 84AD-024.49 đến trước nhà số H N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Đ Công an quận T và Công an P1, quận T kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Trần Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Kết luận định giá tài sản số 277/KL-HĐĐGTS ngày 13/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 84AD-024.49, số máy: JA70E0274480, số khung: RLHJA3933RY014800, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 22/01/2025, trị giá 16.000.000 đồng (BL 38).

* Vật chứng thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 84AD-024.49, số máy: JA70E0274480, số khung: RLHJA3933RY014800, không bị đục lại số (BL 41). Đây là xe máy Trần Văn L đã trộm cắp của anh Thạch Út N.

Qua tra cứu, xe máy trên do chị Ngô Thị N1, địa chỉ B, H, Cầu N đứng tên chủ sở hữu (BL 90). Qua làm việc, chị Ngô Thị N3 trình bày mua và đứng tên chủ sở hữu xe máy trên từ tháng 02/2024 với giá 18.500.000 đồng rồi cho anh T2 Út Nhân mượn để sử dụng và bị mất trộm, yêu cầu được nhận lại xe (BL 61), nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị N1 (BL 49).

*Về dân sự: Anh Thạch Út N đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại Bản cáo trạng số:151/CT-VKSQTP ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Ngày 22/01/2025, tại địa chỉ số A L, phường T, quận T, bị cáo Trần Văn L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 84AD-024.49, trị giá 16.000.000 đồng của anh Thạch Út N, thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Trần Văn L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có tiền án chưa xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm do đó cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Thạch Út N đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 84AD-024.49, số máy: JA70E0274480, số khung: RLHJA3933RY014800, không bị đục lại số. Đây là xe máy Trần Văn L đã trộm cắp của ông Thạch Út N.

Qua tra cứu, xe máy trên do bà Ngô Thị N1, địa chỉ B, H, Cầu N đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, bà Ngô Thị N1 trình bày mua và đứng tên chủ sở hữu xe máy trên từ tháng 02/2024 với giá 18.500.000 đồng rồi cho ông Thạch Út N mượn để sử dụng và bị mất trộm, chị yêu cầu được nhận lại xe, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà N1. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 02 (hai) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2025

  1. [2] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  2. [3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  3. [4] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  4. [5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (1)
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại khu vực Tân Phú (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1)
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (19)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 136/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger