|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 136/2025/HS-ST Ngày: 19 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thiều Thị Loan;
- Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm – Hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại Khu vực Biên Hòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 151/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với:
Bị cáo NGUYỄN HOÀNG T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 2004, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: 148/13/11A, tổ E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: Phòng trọ số H, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 (còn sống); bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10 tháng 5 năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự (Bản án số: 188/2022/HSST). Bị cáo đã thi hành xong Bản án ngày 19 tháng 12 năm 2022.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19 tháng 11 năm 2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trai tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại Khu vực Biên H (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Vào khoảng cuối tháng 10 năm 2024, T đi uống cà phê ở một quán nước thuộc khu vực Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T gặp người nam thanh niên (không rõ lai lịch) và người này cho T 01 gói ma tuý hàng khay để sử dụng và lấy số điện thoại của T. Số ma tuý này, T đã sử dụng một mình hết.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18 tháng 11 năm 2024, khi T đang ở phòng trọ thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì nhận được cuộc gọi của người đàn ông nêu trên. T và người đàn ông này đã thoả thuận bán cho T 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) ma tuý và hẹn T đến khu vực hẻm phía sau cây xăng B thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để nhận ma tuý.
Khoảng 01 giờ 00 ngày 19 tháng 11 năm 2024, T điều khiển xe mô tô biển số 60B1-128.00 đi đến địa điểm nêu trên mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng khay) và 02 viên ma tuý tổng hợp (thuốc lắc) giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng) với mục đích để sử dụng. Sau đó, T cất giấu số ma tuý vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái T đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 60B1-128.00 đi đến nhà của Trần Phi H1 (sinh năm 2006, là bạn của T) tại địa chỉ số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để rủ H1 đi ăn tối.
Đến khoảng 02 giờ ngày 19 tháng 11 năm 2024, khi T đem theo số ma tuý nêu trên điều khiển xe mô tô biển số 60B1-128.00 chở H1 đi đến khu vực tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
- Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 gói nylon bên trong chứa chất màu trắng;
- + 02 viên nén màu xanh thu giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc.
- + 01 xe mô tô biển số 60B1-128.00.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số thuê bao 0332949603; Số imei: 356713119212882 của T sử dụng liên lạc mua ma tuý.
Quá trình điều tra xác định: 01 xe mô tô biển số 60B1-128.00 do chị Vũ Thị Hồng N, thường trú tại 8/78, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên đăng ký. Xác minh tại Phường H chị N không có mặt tại địa phương và không rõ sinh sống ở đâu. T khai xe mô tô nêu trên T mua lại của người không rõ lai lịch từ tháng 5 năm 2023, T đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Do chưa xác định được chủ sở hữu xe mô tô 60B1-128.00 nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- Tại Kết luận giám định số 2391/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- + Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M1) được gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,5460 gam, loại Ketamine;
- + Mẫu viên nén màu xanh (Ký hiệu M2) được gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,9519gam, loại MDMA.
- Tại kết quả xét nghiệm chất ma tuý đối với Nguyễn Hoàng T và Trần Phi H1 kết luận T và H1 đều dương tính với ma túy, loại Ketamine. H1 khai đã sử dụng ma túy một mình vào ngày 17 tháng 11 năm 2024, tại nhà của H1 ở địa chỉ: tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 180/CT-VKSBH ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
3. Lời nói sau cùng:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 02 giờ ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại khu vực tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hoàng T có hành vi tàng trữ trái phép 1,5460 gam ma tuý, loại Ketamine và 0,9519gam ma tuý, loại MDMA với mục đích sử dụng thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
- Về tội danh:
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản cáo trạng số 180/CT-VKSBH ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số thuê bao 0332949603; Số imei: 356713119212882 của T sử dụng liên lạc mua ma tuý.
[4] Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng (không rõ lai lịch) bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
- Đối với Trần Phi H1 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, Ủy ban nhân dân phường T đã ra quyết định xử phạt hình chính đối với H1 là phù hợp.
[5] Về án phí:
Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 11 năm 2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong phong bì có đóng dấu niêm phong số 2391/KL-KTHS ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số thuê bao 0332949603; Số imei: 356713119212882.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Hoàng T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |
Bản án số 136/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 136/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 02 giờ ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại khu vực tổ H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hoàng T có hành vi tàng trữ trái phép 1,5460 gam ma tuý, loại Ketamine và 0,9519gam ma tuý, loại MDMA với mục đích sử dụng thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
