Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HSST

Ngày 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Lâm, bà Vàng Thị Duyên

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 13/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 132/2024/TLST-HS ngày 20/8/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: GIÀNG THỊ C; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 01/01/1982, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: nông dân; Trình độ học vấn: không biết chữ; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; con ông Giàng A L (đã chết, không xác định được năm sinh) và bà Vàng Thị D, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 03 chị, em; bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có chồng là Cứ A C, sinh năm 1979 và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/4/2024, đến ngày 04/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 24/4/2024, Giàng Thị C2 đi bộ trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thì gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch). Qua nói chuyện, Giàng Thị C2 đã mua của người phụ nữ đó 08 viên Methamphetamine (còn gọi là Hồng phiến), trong đó: có 05 viên màu hồng và 03 viên màu xanh, với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân (để giảm đau, do C2 mới làm phun săm môi). Sau khi mua Hồng phiến, Giàng Thị C2 mang về nhà tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T chia thành các gói nhỏ, gói lại bằng các mảnh nilon màu hồng và màu trắng. Sau đó, C2 cất 02 gói ở cạnh gối ở đầu giường ngủ của mình (giường bên ngoài), cất giấu 02 gói (mỗi gói 01 viên) ở đầu giường (trong buồng ngủ nhà C2), cất giấu 04 viên Hồng phiến ở lỗ gạch dưới gầm giường ngủ trong buồng. Đến sáng ngày 25/4/2024, Giàng Thị C2 lấy 01 viên Hồng phiến ở giường ngủ của mình ra, bẻ một ít sử dụng, còn một ít vụn Chay gói chung với 01 viên Hồng phiến như cũ. Sau khi sử dụng H phiến bằng hình thức hít nhưng không hết, số H phiến còn thừa Chay gói lại bằng mảnh giấy bạc rồi cất giấu vào lỗ viên gạch dưới gầm giường trong buồng ngủ (cùng với 4 gói Hồng phiến đã cất giấu từ hôm trước). Đến buổi trưa cùng ngày, Giàng Thị C2 lấy một viên Hồng phiến trên giường trong buồng ngủ ra sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại chưa sử dụng hết, C2 gói lại bằng mảnh giấy bạc rồi để ở đầu giường trong buồng ngủ.

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại bản N, xã P, huyện T, Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Vừ A C3 (SN 2004; trú tại bản N, xã P, huyện T), thu giữ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Vừ A C3 khai nhận số ma túy vừa sử dụng là Heroine mua của Giàng Thị C2.

Trên cơ sở lời khai của Vừ A C3, hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành giứ người và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Giàng Thị C2, phát hiện và thu giữ tại giường ngủ của Giàng Thị C2 (giường bên ngoài) 01 gói nilon màu trắng, bên trong có một ít chất bột màu hồng và 01 viên nén màu hồng; thu giữ tại đầu giường (trong buồng ngủ trong nhà Giàng Thị C2) 01 mảnh giấy bạc, bên trên có viên nén màu hồng (đã bị cháy dở) và 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu hồng; thu giữ tại lỗ viên gạch dưới gầm giường trong buồng ngủ của nhà Giàng Thị C2 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 gói nhỏ (01 gói nilon màu hồng, 02 gói nilon màu trắng), mỗi gói đều chứa 01 viên nén màu xanh; 01 gói giấy bạc, bên trong chứa một ít chất bột màu hồng (đã bị đốt cháy dở) và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu hồng.

Kết luận giám định số 623 ngày 25/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 483 ngày 01/5/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu hồng, viên nén màu hồng, viên nén màu xanh thu giữ của Giàng Thị C2 có tổng khối lượng 0,57 gam; là ma túy, loại: Methamphetamine”

Vật chứng: 0,57 gam Methamphetamine thu giữ của Giàng Thị C2, đã trích 0,36 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật). Các vật chứng còn lại gồm 0,21 gam Methamphetamine, 01 bơm kim tiêm, 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc, 05 mảnh ni lon màu trắng và các phong bì niêm phong vật chứng, đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Giàng Thị C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Giàng Thị C2 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm c khoản 1, Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,21 gam Methamphetamine còn lại, 01 bơm kim tiêm của Vừ A C3, 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc, 05 mảnh ni lon màu trắng và 03 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  2. [2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Giàng Thị C2, thu giữ tại nhiều vị trí trong nhà của Giàng Thị C2 tổng số 0,57 gam Methamphetamine, bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng làm thuốc giảm đau. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.
  3. [3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Giàng Thị C2 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
  4. [4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Giàng Thị C2 không nghiện chất ma túy, bị cáo nhận thức ma tuý có thể làm thuốc giảm đau nên tàng trữ nhằm mục đích giảm đau sau khi thực hiện việc ăm môi.
  5. [5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giàng Thị C2 được sinh ra trong gia đình lao động, bị cáo nhận thức được việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý vì bất kỳ mục đích gì nhưng vẫn thực hiện. Bên cạnh đó, bị cáo đã từng bị kết án phạt tù cho hưởng án treo về hành vi liên quan đến ma tuý, mặc dù đã được xá án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, trở thành người có ích.

    Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khả năng nhận thứ pháp luật còn có nhiều hạn chế. Bị cáo không phải là đối tượng nghiện chất ma tuý nhưng nhận thức sai lầm về tác dụng của ma tuý trong việc giảm đau, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

    Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

  6. [6]. Về vật chứng: Đối với 0,21 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 bơm kim tiêm của Vừ A C3, 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc, 05 mảnh ni lon màu trắng và 03 phong bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
  7. [7]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H1, bị cáo Giàng Thị C2 khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

    Trong vụ án này có đối tượng Vàng A C4 khai đã mua Heroine của Giàng Thị C2. Cơ quan điều tra đã tiến hành đấu tranh, lấy lời khai, đối chất giữa Giàng Thị C2 với Vàng A C4 nhưng Giàng Thị C2 không thừa nhận bán Heroine cho Vàng A C4. Ngoài lời khai duy nhất của Vàng A C4, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Giàng Thị C2 bán Heroine cho Vàng A Cho nên HĐXX không xem xét.

    Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vàng A C4, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

  8. [8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.
  9. [9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng Thị C2 01 (một) năm tù, bị cáo được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, nay buộc bị cáo phải thi hành tiếp 11 (mười một) tháng, 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào các cơ sở giam, giữ để chấp hành hình phạt tù.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 0,21 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm của Vừ A C3, 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc, 05 mảnh ni lon màu trắng và 03 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

    Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Giàng Thị C2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 136/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng Thị C tàng trữ trái phép chất ma tuý làm thuốc giảm đau
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger