Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Kiều Lương

Thẩm phán:Bà Hoàng Thị Thu Minh

Hội thẩm nhân dân:Ông Kiều Minh Sinh

Ông Bùi Tấn Đô

Bà Trần Thị Thu Vân.

– Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Kim Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 18/6/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXX-HSST ngày 04/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn L, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1991 tại: tỉnh Hoà Bình.

Nơi đăng ký thường trú: xóm M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở hiện nay: ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Dân tộc: kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Văn X, sinh năm 1968 và con bà Bùi Thị T, sinh năm 1967. Gia đình bị can có 03 anh em. Bị can là con thứ ba trong gia đình và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh số 258/LTG-VPCQCSĐT ngày 22/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định có ông Phạm Văn Đ, thuộc Văn phòng luật sư Lưu Gia P, Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Bị hại: Anh Dương Đức T1, sinh năm 1993, ngụ tại ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai

(Bị cáo; Luậtsư bào chữa cho bị cáo, bị hại có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính: Bùi Văn L và chị Phạm Thị M, sinh năm 1995, ngụ tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau có quan hệ tình cảm và sinh sống với nhau như vợ chồng tại ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai do chị M thuê để mở quán bán cà phê, nước giải khát (không đặt tên). Vào khoảng 22 giờ ngày 12/10/2023, Dương Đức T1, sinh năm 1993, ngụ tại ấp X, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đến quán uống nước rồi cả hai đóng cửa quán để tâm sự.

    Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, Bùi Văn L điều khiển xe mô tô biển số 72T3-1003 đến quán của M thì thấy quán đóng cửa nên L đứng ngoài chờ. Khoảng 10 phút sau, chị M mở cửa quán, L nhìn thấy anh T1 điều khiển xe mô tô biển số 60C1-900.58 từ trong quán đi ra. L ghen tuông đi đến hỏi M “mày mới ngủ với thằng T1 à”, thì M bỏ đi, L đuổi theo dùng tay nắm tóc của M kéo vào trong quán thì M la hét kêu L thả ra. Nghe tiếng la hét của M nên T1 quay lại và thấy L đang nắm tóc của M. T1 đi đến ôm cổ Lý đè xuống đường và dùng tay không đánh vào mặt L, L vùng dậy bỏ chạy vào quán của M tìm hung khí để đánh T1. Thấy vậy, T1 điều khiển xe mô tô biển số 60C1-900.58 chở M bỏ chạy về hướng thị trấn L. L vào quán lấy được 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng inox dài khoảng 15cm, bản rộng khoảng 03cm, mũi nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng rồi điều khiển xe mô tô biển số 72T3-1003 đuổi theo. Thấy L đuổi theo nên T1 dừng xe trước quán cà phê của chị Huỳnh Thị Thanh T2, sinh năm 1980, ngụ tại ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để M chạy vào trong quán trốn. Khi L chạy xe đến, T1 liền ôm L can ngăn làm rơi con dao Lý đang cầm trên tay. L vùng ra, dùng tay phải nhặt dao lên đâm 02 nhát vào hông trái của T1. T1 tiếp tục ôm L để khống chế thì L tiếp tục đâm 02 nhát vào cánh tay trái và 01 nhát vào vai trái của anh T1 gây mẻ xương sườn số 9 bên trái, thấu ngực tràn khí, tràn máu màng phổi trái, thủng cơ hoành phải, thủng dạ dày phải và tổn thương thần kinh quay trái đoạn 1/3 dưới cánh tay trái làm anh T1 ngất xỉu, rồi L điều khiển xe mô tô biển số 72T3-1003 bỏ đi. Sau đó, anh T1 được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 nên anh T1 không tử vong mà bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%.

    Đến ngày 13/10/2023, L đến Công an xã L, huyện L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

  2. Hiện trường và khám nghiệm hiện trường: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai thu thập dấu vết như sau: các giọt màu nâu đỏ (nghi máu) đã khô trên đường và bên sảnh phía trước Shop C.

    Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1015/KLTTCT-TTPYĐN ngày 20/10/2023 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của Dương Đức T1 như sau:

    1. Các kết quả chính:
      • Vết thương vai trái kích thước 1,5x0,2cm.
      • Vết thương hông trái kích thước 3,5x0,2cm.
      • Vết thương hông trái (lưng trái) kích thước 1,5x0,2cm.
      • Vết mổ ngực bên trái kích thước 1,5x0,5cm.
      • Vết mổ ngang rốn kích thước 1,5x0,2cm.
      • Vết mổ hố chậu phải kích thước 01x0,2cm.
      • Vết thương trùng với vết mổ mặt trong cánh tay trái kích thước 14x0,2cm.
      • Vết thương trùng với vết mổ mặt sau cánh tay trái kích thước 08x0,2cm.
      • Vết thương trùng với vết mổ mặt ngoài cánh tay trái kích thước 5,5x0,2cm.
    2. Kết luận:

      Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Đức T1 tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm).

    3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc.

    Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 0003/KLTTCT-TTPYĐN ngày 16/2/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Đức T1 như sau:

    • Sẹo mổ dẫn lưu ngực trái kích thước 2,5x01 cm.
    • Sẹo mổ vùng bụng bên phải kích thước 01x0,2cm.
    • Sẹo mổ vùng bụng bên phải kích thước 1,5x0,2cm.
    • Sẹo mổ vùng bụng bên trái kích thước 01x0,2cm.
    • Sẹo mổ vùng bụng bên trái kích thước 0,7x0,2cm.
    • Sẹo mổ dưới rốn kích thước 2,5x0,2cm.
    • Tổn thương đụng dập động mạch cánh tay trái đã phẫu thuật cắt bỏ đoạn dập đã được khâu nối hiện không biểu hiện tắc mạch. Tỷ lệ: 08%
    • Đứt tĩnh mạch cánh tay trái đã khâu nối phục hồi tốt.
    • Mẻ xương sườn số 9 bên trái.
    • Vết thương thấu ngực tràn khí, tràn máu màng phổi trái đã được phẫu thuật hiện để lại dải xơ xẹp thùy dưới phổi trái.
    • Thủng cơ hoành phải phẫu thuật hiện để lại dày dính màng phổi trái.
    • Thủng dạ dày phải phẫu thuật kết quả tốt.
    • Tổn thương thần kinh quay trái đoạn 1/3 dưới cánh tay trái, không xác định được thời gian tổn thương.

    Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Đức T1 – 1993 tại thời điểm giám định là: 79% (Bảy mươi chín phần trăm).

    Tại Bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0157/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 27/02/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận cơ chế hình thành vết thương của Dương Đức T1, như sau:

    • Vết thương hông trái (lưng trái), thấu ngực tràn máu tràn khí màng phổi trái, mẻ xương bờ dưới cung sau xương sườn 9 bên trái, đã phẫu thuật hiện để lại dải xơ xẹp thùy dưới phổi trái. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng thông trái (lưng trái) với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải, từ sau ra trước gây nên;
    • Vết thương hông trái thấu ngực bụng, thủng cơ hoành trái, thủng dạ dày, đã phẫu thuật hiện để lại dày dính màng phổi trái. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng hông trái với lực đủ theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước gây nên;
    • Vết thương 3cm dọc mặt trong 1/3 giữa dưới cánh tay trái, đứt tĩnh mạch cánh tay, động mạch đụng dập. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng dọc mặt trong 1/3 giữa dưới cánh tay trái với lực vừa đủ theo hướng từ trong ra ngoài và từ phải qua trái gây nên.
    • Vết thương 03cm dọc mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái: Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng mặt sau 1/3 trên cánh tay trái với lực vừa đủ theo hướng từ sau ra trước và lệch từ trái qua phải gây nên;
    • Vết thương 02cm cổ trái (vai trái). Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng cổ trái (vai trái) với lực vừa đủ theo hướng từ sau ra trước và lệch từ trái qua phải gây nên;
    • Tổn thương gần hoàn toàn dây thần kinh quay cảm giác bên trái, ảnh hưởng sợi trục, myelin, giai đoạn mãn tính. Tổn thương này không xác định rõ được cơ chế tổn thương, có thể do quá trình lành sẹo vết thương gây nên xơ hóa chèn ép mô xung quanh gây nên tổn thương thứ phát dây thần kinh.
    • Nếu không được cấp cứu kịp thời có nguy hiểm đến tính mạng hay không?: Nạn nhân vào viện trong tình trạng đa vết thương vai trái, hông lưng trái và tay trái, kèm theo thấu ngực, thủng cơ hoành, dạ dày, tổn thương mạch máu... Huyết áp: 80/60mmHg, SpO2 85% khí phòng. Chuẩn đoán: Choáng do giảm thể tích tuần hoàn/đả thương. Điều trị: Dịch truyền NaCl 0,9% 500ml x 4 chai, truyền tĩnh mạch nhanh, may vết thương lưng trái bít kín để thông khí nên thuộc cấp cứu khẩn cấp, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân nếu không được cấp cứu kịp thời.
  3. Vật chứng thu giữ gồm:
    • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE a màu xanh, gắn BKS: 72T3 – 1003, số khung: RRKWCH5UM7X009010, số máy: VTTJL1P52FMH-3009010 của Bùi Văn L.
    • Đối với 01 (một) con dao dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng inox dài khoảng 15cm, bản rộng khoảng 03cm, mũi nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng do sau khi đâm anh T1, Lý kẹp con dao trên gác baga xe mô tô biển số 72T3- 1003, bỏ chạy đã bị rơi trên đường, không xác định được địa điểm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai không thu giữ được. (Bút lục số 208)
  4. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Dương Đức T1 yêu cầu bị can Bùi Văn L bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn hại sức khỏe, tinh thần với tổng số tiền 159.000.000 đồng. L đã bồi thường cho anh T1 số tiền 40.000.000 đồng.
  5. Truy tố: Cáo trạng số 121/CT-VKS-P2 ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
  6. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
    1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn L về tội “Giết người”.
    2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
    3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường được một phần chi phí điều trị cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 15, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn L mức án từ 12 đến 14 năm tù
    5. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE a màu xanh, gắn BKS: 72T3 – 1003, do Bùi Văn L dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
    6. Về bồi thường dân sự: Đề nghị bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại theo quy định.
    7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  8. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật trình bày tại phiên tòa:

    Hành vi của bị cáo Bùi Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã rõ, trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi của mình và khi nhận kết luận điều tra cũng như Cáo trạng thì bị cáo cũng không có ý kiến gì. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền về tính mạng, sức khỏe của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đáng bị lên án. Tuy nhiên, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, chưa có tiền án, tiền sự thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh khó khăn, là dân lao động và là người dân tộc, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đã bồi thường một phần chi phí điều trị cho bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của của bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt để bị cáo có cơ hội cống hiến cho gia đình bị cáo và xã hội nói chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, bị hại được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

  2. Về nội dung vụ án.
    1. Hành vi của bị cáo bị truy tố:

      Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết quả giám định pháp y, giám định vật chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thu nhận vật chứng, cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, thể hiện: Do nghi ngờ chị Phạm Thị M có quan hệ tình cảm với anh Dương Đức T1. Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 12/10/2023, tại ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, do ghen tuông vô cớ, Bùi Văn L đã có hành vi dùng 01 con dao Thái Lan dài 20cm, lưỡi dao bằng Inox dài 15cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, đâm nhiều nhát trúng vào vai trái, lưng trái, hông trái và tay trái anh Dương Đức T1 gây mẻ xương sườn số 9 bên trái, thấu ngực tràn khí, tràn máu màng phổi trái, thủng cơ hoành phải, thủng dạ dày phải và tổn thương thần kinh quay trái đoạn 1/3 dưới cánh tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%.

      Do đó, đã có cơ sở xác định, hành vi của bị cáo Bùi Văn L thực hiện đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

    2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

      Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, tài sản của bị hại, thể hiện tính chất côn đồ, coi thường tính mạng sức khỏe người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, xem thường pháp luật. Việc anh T1, không chết do yếu tố khách quan và được phát hiện kịp thời, nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

  3. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:
    1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
    2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp chưa đạt, đã bồi thường một phần chi phí thiệt hại cho bị hại, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, là dân lao động, có hoàn cảnh khó khăn thuộc thành phần lao động, là người dân tộc, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 15 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo.
    3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
    4. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền thuốc men điều trị, tiền công chăm sóc những ngày nằm viện và tiền tổn thất tinh thần là 159.000.000đ; Bị cáo và gia đình đã khắc phục được số tiền 40.000.000đ số tiền còn lại 119.000.000đ, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
    5. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE a màu xanh, gắn BKS: 72T3 – 1003, do bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công.
    6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

      Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.950.000đ (năm triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

      Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Giết người”.
  2. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 15 Bộ luật Hình sự.
  3. Quyết định hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023
  4. Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Dương Đức T1 số tiền 119.000.000đ (một trăm mười chín triệu đồng).

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung công: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu WAVE a màu xanh, gắn biển kiểm soát 72T3-1003, số khung: RRKWCH5UM7X009010, số máy: VTTJL1P52FMH-3009010 (số khung, số máy xe trước và sau giám định không bị đục, không bị tẩy xóa, thay đổi theo Kết luận số 863/KL-KLHS ngày 06/5/2024).

    Tình trạng vật chứng: Xe đã qua sử dụng, cũ, không kính chiếu hậu hai bên, không khởi động được, không chìa khóa, trầy xước nhiều chỗ, không có cánh yếm xe. Biển số đang gắn trên xe không phải là biển số thật của xe theo biên bản xác minh nguồn gốc xe môtô ngày 13/11/2023 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L qua kiểm tra thì không có kết quả đối với xe môtô có RRKWCH5UM7X009010, số máy: VTTJL1P52FMH-3009010.

    (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024. Phiếu nhập NK/139 ngày 07/8/2024).

  6. Thi hành án:
    • Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
    • Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.950.000đ (Năm triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV 06 – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai (PC 01);
  • - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Luật sư; Lưu hồ sơ, VP, TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN

Hoàng Thị Thu Minh

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về giết người (criminal case - attempted homicide)

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Criminal Case - Attempted Homicide)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do nghi ngờ chị Phạm Thị M có quan hệ tình cảm với anh Dương Đức T1. Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 12/10/2023, tại ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, do ghen tuông vô cớ, Bùi Văn L đã có hành vi dùng 01 con dao Thái Lan dài 20cm, lưỡi dao bằng Inox dài 15cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, đâm nhiều nhát trúng vào vai trái, lưng trái, hông trái và tay trái anh Dương Đức T1 gây mẻ xương sườn số 9 bên trái, thấu ngực tràn khí, tràn máu màng phổi trái, thủng cơ hoành phải, thủng dạ dày phải và tổn thương thần kinh quay trái đoạn 1/3 dưới cánh tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger