Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 136/2024/HS-ST

Ngày: 16-10-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Thơm.

2. Ông Phan Vũ Anh Kiệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: BÙI VĂN T, sinh năm: 1994 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: Khu phố F, phường B, thị xã K, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L, sinh năm: 1969 và bà Huỳnh Thị P, sinh năm: 1969; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác.

* Bị hại: Bà Phạm Thị Quỳnh T1, sinh năm: 1988; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm: 1982; (Có mặt)

Nơi cư trú: Tổ H, khu phố F, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa năm 2023, do đầu tư tiền ảo thua lỗ, Bùi Văn T đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm có tiền trả nợ. Thực hiện ý định này, T lên mạng internet mua được 01 sim rác số 0786.053668 và 01 tài khoản ngân hàng số 0878403768 của ngân hàng S, đứng tên Trần Thanh P2. Sau đó, T sử dụng điện thoại hiệu S1 20 tạo tài khoản Facebook có tên “Nhà P Bia Nước Ngọt M” và tải các hình ảnh bia, nước ngọt từ trên mạng lên trang Facebook với thông tin giá bán rẻ hơn nhiều so với thị trường để dụ dỗ người mua. Khi người mua chuyển tiền, T dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt. Vào ngày 15/8/2023, bà Phạm Thị Quỳnh T1 thấy trang Facebook tên “Nhà P3” của T nên đã nhắn tin để tham khảo giá các loại bia. Khi nhận được báo giá rẻ hơn so với thị trường, bà T1 đã đặt mua đơn hàng gồm: 200 thùng bia S2; 10 thùng bia Larue; 50 thùng bia Heineken loại 250ml/lon; 05 thùng bia Heineken loại 330ml/lon; và 20 thùng bia Tiger Crystal (Tiger bạc). Tổng đơn hàng trên được Tý báo giá là 76.305.000 đồng. Sau khi bà T1 đồng ý mua, T đã sử dụng số điện thoại 0786.053.xxx để gọi cho bà T1 hỏi địa chỉ và hẹn trưa ngày 17/8/2023 sẽ giao hàng cho bà T1 tại số C H, khu phố B, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Đồng thời, T dặn bà T1 sau khi kiểm đếm đủ hàng thì thực hiện việc thanh toán bằng cách chuyển khoản vào tài khoản số 0878403768 của ngân hàng S, đứng tên Trần Thanh P2.

Sau khi biết địa chỉ của bà T1 ở thị xã L, tỉnh Bình Thuận, T lên mạng tìm kiếm đại lý bia trên địa bàn thị xã L và tìm thấy số điện thoại của Nhà phân phối bia, rượu, nước giải khát Lê N. Sáng ngày 17/8/2023, T đã sử dụng số điện thoại 0786.053.xxx, tự xưng tên H, liên hệ với ông Nguyễn Văn P1, chủ Nhà phân phối bia, rượu, nước giải khát Lê N, để đặt mua các loại bia với số lượng cụ thể: 200 thùng bia S2; 10 thùng bia Larue; 50 thùng bia Heineken loại 250ml/lon; 05 thùng bia Heineken loại 330ml/lon; 20 thùng bia Tiger Crystal (Tiger bạc); và 05 thùng bia Tiger loại 330ml/lon, nhằm mục đích chuyển giao cho bà T1 theo kế hoạch lừa đảo. Đồng thời, T yêu cầu ông P1 không tiết lộ giá và không nhận tiền từ bà T1 để hưởng số tiền chênh lệch, và sẽ chuyển khoản cho ông P1 sau khi giao hàng xong. Khoảng 11 giờ ngày 17/8/2023, ông P1 chở số hàng trên đến địa chỉ nhà bà T1. Khi kiểm tra hàng, bà T1 phát hiện thiếu 05 thùng bia Tiger loại 330ml/lon, nên chỉ nhận đúng số lượng đã đặt mua từ T và trả lại 05 thùng bia. Sau khi đã nhận đủ hàng, bà T1 chuyển khoản số tiền 76.305.000 đồng vào tài khoản 0878403768 của ngân hàng S, đứng tên Trần Thanh P2. Sau khi nhận tiền, T chặn liên lạc, tiêu hủy SIM và thẻ ngân hàng, sau đó chiếm đoạt tiền để sử dụng cho mục đích đầu tư tiền ảo. Về phía ông P1, sau khi chuyển hàng xong, ông liên hệ lại với số điện thoại 0786.053.xxx nhưng không được. Ông sau đó gọi điện cho bà T1 và được biết bà T1 đã trả tiền bia. Nhận thấy mình bị lừa, bà T1 và ông P1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để trình báo. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã tạm giữ số lượng bia còn lại tại nhà bà T1, bao gồm: 190 thùng bia S2; 10 thùng bia Larue (đã bán 04 thùng); 20 thùng bia Heineken loại 250ml/lon; 05 thùng bia Heineken loại 330ml/lon; và 20 thùng bia Tiger bạc. Riêng 10 thùng bia Sài Gòn L, 30 thùng bia Heineken loại 250ml/lon, và 04 thùng bia Larue đã được bà T1 bán lại cho người khác với tổng số tiền 13.762.000 đồng. Tất cả số bia này đã được Cơ quan điều tra trả lại cho ông Nguyễn Văn P1 vào ngày 05/10/2023.

Trong quá trình điều tra, Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị Quỳnh T1. Ngoài hành vi nêu trên, Bùi Văn T còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại huyện L, tỉnh Hậu Giang, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện L khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự tại Quyết định số 37 ngày 04/10/2023.

Đối với chiếc điện thoại S1 20 mà T sử dụng làm phương tiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T1, hiện đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện L tạm giữ và xử lý trong vụ án xảy ra tại huyện L.

Đối với tài khoản ngân hàng số 0878403768 của ngân hàng S, đứng tên Trần Thanh P2. Qua xác minh, chủ tài khoản được xác định là Trần Thanh P2 (sinh năm 1993, địa chỉ: M, P, Bình Định), mở tài khoản ngày 04/8/2023.

Tuy nhiên, qua làm việc với Trần Thanh P2, xác định rằng P2 đã bị Công an Q, thành phố Hồ Chí Minh bắt giam vào ngày 08/12/2022 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, và trước đó bị mất chứng minh nhân dân, hiện vẫn đang bị tạm giam. Vì vậy, P2 không biết ai đã sử dụng giấy tờ của mình để mở tài khoản ngân hàng này.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSLG-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P1 số tiền 13.742.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo T xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Xét thấy bị hại vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 07 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Với thủ đoạn tạo tài khoản Facebook để đăng tải các hình ảnh bia, nước ngọt nhằm dụ dỗ khách hàng mua hàng với giá rẻ để chiếm đoạt tài sản, Bùi Văn T đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị Quỳnh T1 vào ngày 15/8/2023. Cụ thể, T lừa bán cho bà T1 số lượng bia gồm 200 thùng bia S2, 10 thùng bia Larue, 50 thùng bia Heineken loại 250ml/lon, 05 thùng bia Heineken loại 330ml/lon và 20 thùng bia Tiger bạc, với tổng giá trị 76.305.000 đồng. Để thực hiện hành vi lừa đảo, vào ngày 17/8/2023, T đã liên hệ với Nhà phân phối bia rượu, nước giải khát Lê N của ông Nguyễn Văn P1, đặt hàng và yêu cầu giao cho bà T1. Sau khi bà T1 nhận bia và chuyển khoản đầy đủ số tiền 76.305.000 đồng vào tài khoản mà T cung cấp, T lập tức chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền này. Hành vi trên của bị cáo Bùi Văn T đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Bùi Văn T là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong thời đại công nghệ phát triển, lừa đảo trên không gian mạng đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn tinh vi và khó lường. Các đối tượng lừa đảo thường lợi dụng sự phổ biến của internet và mạng xã hội để tạo ra các tài khoản giả mạo, quảng cáo sản phẩm với giá hấp dẫn, hoặc giả danh các tổ chức, doanh nghiệp U nhằm chiếm đoạt tài sản của người dùng. Bị cáo trong trường hợp này là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và hiểu rõ rằng quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo vẫn cố ý sử dụng những thủ đoạn gian dối trên không gian mạng để xâm phạm và chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ xem thường pháp luật cũng như quyền lợi hợp pháp của người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ gây thiệt hại cho nạn nhân mà còn gây mất trật tự xã hội và làm suy giảm niềm tin vào an ninh cộng đồng.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Phạm Thị Quỳnh T1 yêu cầu Bùi Văn T hoàn trả lại số tiền mua bia là 76.305.000 đồng nhưng T chưa thực hiện. Ông Nguyễn Văn P1 yêu cầu chị T1 trả số tiền bia còn lại là 13.742.000 đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị hại có đơn giảm mức yêu cầu bồi thường xuống còn 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất yêu cầu của bị hại và đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn P1 số tiền 13.742.000 đồng. Ông P1 thống nhất ý kiến của bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại S1 20 mà T sử dụng làm phương tiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T1, hiện đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện L tạm giữ và xử lý trong vụ án xảy ra tại huyện L nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với Trần Thanh P2, quá trình điều tra xác định P2 không liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bị bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với bị hại: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Phạm Thị Quỳnh T1 số tiền là 40.000.000 đồng. (Bốn mươi triệu đồng).
  • - Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn P1 số tiền là 13.742.000 đồng. (Mười ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.674.000 đồng (Hai triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/10/2024). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 136/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Với thủ đoạn tạo tài khoản Facebook để đăng tải các hình ảnh bia, nước ngọt nhằm dụ dỗ khách hàng mua hàng với giá rẻ để chiếm đoạt tài sản, Bùi Văn T đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị Quỳnh T1 vào ngày 15/8/2023. Cụ thể, T lừa bán cho bà T1 số lượng bia gồm 200 thùng bia Sài Gòn Lager, 10 thùng bia Larue, 50 thùng bia Heineken loại 250ml/lon, 05 thùng bia Heineken loại 330ml/lon và 20 thùng bia Tiger bạc, với tổng giá trị 76.305.000 đồng. Để thực hiện hành vi lừa đảo, vào ngày 17/8/2023, Tý đã liên hệ với Nhà phân phối bia rượu, nước giải khát Lê N của ông Nguyễn Văn P, đặt hàng và yêu cầu giao cho bà T1. Sau khi bà T1 nhận bia và chuyển khoản đầy đủ số tiền 76.305.000 đồng vào tài khoản mà T cung cấp, T lập tức chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền này. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bị bắt đi thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger