Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19/9/2024

V/v: Ly hôn và tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thề, ông Trần Đăng Ninh.

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Q - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024;

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1988; NĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Thôn D, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang xuất khẩu lao động tại Ba Lan, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Công T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị S kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 25/12/2014. Thời gian đầu, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 11/2009, anh sang Ba Lan sinh sống và làm việc; thời gian này, do khoảng cách địa lý xa xôi và công việc bận rộn, nên vợ chồng ít khi nói chuyện, quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng từ đó phai nhạt dần. Từ thời điểm năm 2020, vợ chồng anh bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn do khác biệt về quan điểm, lối sống; mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hòa giải để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không thành. Đến cuối năm 2020, vợ chồng anh quyết định sống ly thân và không còn liên lạc với nhau cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị S.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 chung tên là Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019, hiện nay, các con đang sinh sống cùng chị S tại thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Do anh đang sống và làm việc tại Ba Lan, nên để bảo đảm sự phát triển ổn định của các con, anh có nguyện vọng được giao 02 con cho chị Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh tự nguyện cấp dưỡng cho cả hai con mỗi tháng 5.000.000đ cho đến khi các con đủ 18 tuổi

Sau đó, anh T có thay đồi về trách nhiệm trực tiếp nuôi con, đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Thị Bình A cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao con Nguyễn Năng Gia H cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T ở nước ngoài, anh đề nghị Tòa án tạm giao con Nguyễn Năng Gia H cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng thay anh cho đến khi anh về nước, anh T sẽ cấp dưỡng nuôi con Gia H mỗi tháng 5.000.000đ. Về số tiền cấp dưỡng nuôi con 432.000.000 đồng tính từ năm 2019 đến nay, chị S yêu cầu anh thanh toán, anh trình bày do công việc hiện nay của anh ở nước ngoài không ổn định, thu nhập không đủ nuôi sống bản thân do đó yêu cầu của chị S nằm ngoài khả năng thanh toán của anh nên anh không đồng ý.

Chị Nguyễn Thị S trình bày cơ bản thống nhất với trình bày của anh T về thời gian kết hôn, chung sống, thời gian xảy ra mâu thuẫn vợ chồng cũng như về con chung. Về lý do mâu thuẫn theo chị S do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên không còn quan tâm vợ con và yêu cầu ly hôn. Về quan hệ hôn nhân, chị S cũng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng chị chỉ đồng ý ly hôn khi anh T thanh toán cho chị số tiền

Về trách nhiệm trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị S đề nghị Tòa án giao cả hai con chung Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 8.000.000₫ bắt đầu 384.000.000đ của 4 năm trước kể từ tháng 02/2020 đến 02/2024 và 5 năm tiếp theo từ tháng 3/2024 đến tháng 3/2029 là 480.000.000đ và yêu cầu anh T thanh toán tiền một lần.

từ tháng 02/2020 và phải thanh toán tiền một lần là 864.000.000đ, trong đó bao gồm 384.000.000₫ của 04 năm (từ tháng 02/2020 đến tháng 02/2024) và của 05 năm tiếp theo (từ tháng 3/2024 đến tháng 3/2029). Sau đó từ tháng 4/2029 anh T có thể cấp dưỡng hàng tháng mỗi tháng 8.000.000đ cho cả 02 con chung. Riêng đối với con Nguyễn Thị Bình A, anh T phải tiếp tục cấp dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Đối với con Nguyễn Năng Gia H bị bệnh bại não, thì buộc anh T phải cấp dưỡng trọn đời.

+ Về tài sản chung: Chị S thống nhất không yêu cầu giải quyết.

Sau đó chị S có thay đổi quan điểm: Về hôn nhân: Chị thống nhất ly hôn; Về trách nhiệm trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con một lần từ tháng 02/2020 đến nay cho cả hai con với tổng số tiền 432.000.000đ và phải chuyển trước khi có bản án ly hôn. Sau khi có bản án, anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng một tháng 8.000.000đ cho cả hai con chung (con Bình An 2.500.000đ; con Gia Huy 5.500.000đ). Nếu anh T không đồng ý thì đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Năng Gia H cho anh T trực tiếp nuôi con, còn chị chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Bình A.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 28, 37, 48, 49, 51, 196, 227, 469, 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ, bị đơn không hợp tác nên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết cũng như đăng tin đúng quy định.

- Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 1 Điều 37, 39, 143, 147 Điều 464, 469 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 115, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

- Anh Nguyễn Công T được ly hôn chị Nguyễn Thị S.

- Giao 02 con Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Công T phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Bình A mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Năng Gia H 5.500.000đ cho đến trọn đời. Anh Nguyễn Công T còn phải cấp dưỡng, hỗ trợ khó khăn, túng thiếu cho chị Nguyễn Thị S để bù đắp khoản tiền khám và điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Năng Gia H trong 04 năm (từ tháng 9/2020 đến tháng 9/2024) với số tiền 158.285.000đ.

- Về án phí: anh Nguyễn Công T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con, cấp dưỡng nuôi con; chị Nguyễn Thị S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh Nguyễn Công T đang sinh sống và làm việc tại Ba Lan theo xác nhận Công văn số 2349/QLXNC-P3 ngày 30/01/2024 của Cục Q1 Bộ C nên việc Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án do điều kiện công việc nên anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt; Anh T đã ủy quyền cho anh Nguyễn Quốc B, địa chỉ liên hệ: số nhà F, đường B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giao nhận văn bản, tài liệu của Tòa án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh Nguyễn Công T theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ tình cảm: Anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký đúng quy định của pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng, anh T và chị S trình bày không thống nhất, nhưng đều khẳng định: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn liên hệ với nhau nữa. Hiện tại, cả hai bên đều nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên đều thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, các đương sự đều thống nhất ý chí đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, việc duy trì hôn nhân giữa anh T và chị S là không có ý nghĩa, nên HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận giải quyết cho anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị S được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55, 123 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình giải quyết, anh T và chị S ban đầu đều có nguyện vọng yêu cầu giao cả hai con chung Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng sau đó, do không thống nhất được về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên cả hai đều đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao con Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, xét thấy, anh T hiện nay đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc con Nguyễn Năng Gia H, trong khi đó, con Nguyễn Năng Gia H lại bị bệnh bại não không thể vận động, tự chăm sóc bản thân, cần người mẹ chăm sóc trực tiếp 24/24 giờ theo Giấy xác nhận của UBND xã T, huyện Đ số 42/440/18259/13 ngày 30/11/2016 cùng các bệnh án của Viện tâm thần ban ngày M- Sở Y; Bệnh viện Đ. Và từ khi anh T đi nước ngoài đến nay, cả hai con đều ở với mẹ, con Nguyễn Năng Gia H được chăm sóc cả về sức khỏe lẫn tinh thần đầy đủ còn con Nguyên Thị Bình A1 được chăm sóc ăn học phát triển tốt. Để đảm bảo điều kiện để các con được chăm sóc thường xuyên trực tiếp và phát triển ổn định cả về thể chất lần tinh thần, HĐXX xét thầy cần thiết phải giao cả hai con chung Nguyễn Thị Bình A và đặc biệt là con Nguyễn Năng Gia H cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc giáo dục và xem xét điều kiện cụ thể để buộc anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ban đầu, tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2023, anh T trình bày anh sẽ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5 triệu đồng, sau đó, tại bản tự khai ngày 20/3/2024, anh T cho rằng anh không đủ điệu kiện kinh tế nên đề nghị thay đổi mức cấp dưỡng cho hai con là 3.000.000đ. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10.6.2024, anh T đề nghị phân chia trách nhiệm trực tiếp nuôi con và giao con chung Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao con Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; đồng thời anh sẽ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Năng Gia H trong thời gian anh nhờ chị S nuôi hộ mỗi tháng là 5.000.000đ. Còn chị Nguyễn Thị S yêu cầu anh T cấp dưỡng 8.000.000đ/tháng cho 02 cháu (trong đó: cháu Nguyễn Thị Bình A mỗi tháng 2.500.000đ; cháu Nguyễn Năng Gia H 5.500.000đ). Nếu anh T không đồng ý mức cấp dưỡng đó thì đề nghị Tòa án phân chia trách nhiệm trực tiếp nuôi con. Như nhận định ở trên, HĐXX xác định giao cả hai con cho chị Nguyễn Thị S nuôi dưỡng và xem xét điều kiện cụ thể buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Qua xem xét các khoản chi phí, hóa đơn chị Nguyễn Thị S xuất trình phục vụ việc nuôi dưỡng hai con chung, đặc biệt đối với cháu Nguyễn Năng Gia H cần một khoản chi phí rất lớn, cụ thể riêng đối với con Nguyễn Năng Gia H một tháng ít nhất là 6.504.570 đồng, gồm: Tiền thuốc: 2.560.000đ/tháng; tiền bỉm: 900.000đ/tháng; tiền sữa: 1.110.000đ/tháng; tiền ăn uống và quần áo 2.000.000đ/tháng; tiền thuê người chăm sóc 4.500.000đ/tháng. Trong khi chị S hiện nay có hoàn cảnh khó khăn, một mình vừa đi làm vừa phải dành thời gian chăm sóc con bại liệt nên thu nhập không đủ để đảm bảo cuộc sống cho cả ba mẹ con. Do đó, HĐXX xét thấy mức yêu cầu cấp dưỡng như trên của chị S đối với 02 cháu là phù hợp, đặc biệt là đối với cháu Gia H là trẻ bị khuyết tật nặng, mất năng lực nhận thức, không tự phục vụ được, phải có người thường xuyên chăm sóc thì mức cấp dưỡng 5.500.000đ/ tháng là chấp nhận được.

Đối với yêu cầu của chị S về buộc anh T phải thanh toán khoản tiền cấp dưỡng nuôi con một lần từ tháng 02/2020 đến nay cho cả hai con là 432.000.000đ, HĐXX xét thấy: Theo lời khai của anh Nguyễn Công T thì anh đi lao động ở Rumani từ cuối năm 2019 và từ giữa năm 2020 anh T không liên lạc gì với vợ con. Như vậy, rõ ràng anh T đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình. Việc chị S yêu cầu anh T phải thực hiện trách nhiệm đối với các con trong thời gian anh bỏ mặc là có căn cứ. Một thời gian rất dài, chị S phải một mình nuôi hai đứa con thơ dại, trong đó có một con bị khuyết tật nặng, mất khả năng nhận thức, không tự chủ được sinh hoạt bản thân, phải có người chăm sóc. Hoàn cảnh hiện nay của chị S rất khó khăn, túng thiếu, do đó cần buộc anh Nguyễn Công T cấp dưỡng cho chị S một khoản tiền để bù đắp kinh phí mà 4 năm qua chị S đã bỏ ra và vay mượn để khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Năng Gia H. Trên cơ sở kê khai của chị Nguyễn Thị S về chi phí để khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Năng Gia H thì có cơ sở để chấp nhận các khoản tiền chi phí hợp lý sau đây: Tiền thuốc: 2.560.000đ/tháng; tiền bỉm: 900.000đ/tháng; tiền sữa: 1.110.000đ/tháng; tiền ăn uống và quần áo 2000.000đ/tháng; tiền thuê người chăm sóc 4.500.000đ/tháng. Tổng cộng 11.070.000₫ x 48 tháng = 316.570.000đ: 2 (anh T chịu một nửa) = 158.285.000đ.

[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Anh Nguyễn Công T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 1 Điều 37, 39, 143, 147 Điều 464, 469 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, điểm a khoản 2, Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xử:

  1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị S
  2. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Năng Gia H, sinh ngày 23/8/2015 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 12/02/2019 cho chị Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Công T phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thị Bình A mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Năng Gia H 5.500.000đ cho đến trọn đời.

    Anh Nguyễn Công T phải thanh toán cho chị Nguyễn Thị S ½ chi phí chị S đã bỏ ra để chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung từ tháng 2/2020 đến tháng 9/2024 là 158.285.000đ.

  3. Về tài sản chung: Đương sự thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Công T tự nguyện nộp 150.000 đồng (Một trăm năm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phi cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định. Tính trừ cho anh T trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000768, ngày 15/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh T còn phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm nghìn đồng) tiền án phi cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị đơn, vắng mặt nguyên đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc khi bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THSDS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Xuán Lộc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn và tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

  • Số bản án: 136/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp cấp dưỡng nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger