Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 136/2023/HS-ST

Ngày: 04-12-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Khôi.

2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2023/QĐST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Phú L - sinh năm 1986, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phạm Phú Đ – sinh năm 1953 và bà Đinh Thị T - sinh năm 1955ồngH; có vợ là Trương Thị M – sinh năm 1985; có 01 con chung sinh năm 2023; tiền án: không; nhân thân: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện T từ ngày 02/11/2022 đến ngày 22/6/2022 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Tấn D – sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

2/ Anh Nguyễn Tấn S – sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

3/ Anh Vũ Mạnh H – sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

4/ Ông Trần Đình Đ1 – sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

5/ Anh Cao Văn Á – sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

6/ Anh Lê Văn S1 – sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

7/ Anh Trần Quốc H1 – sinh năm 1973; nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

8/ Anh Nguyễn Quốc Đ2 – sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

9/ Anh Nguyễn Văn N – sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

10/ Anh Vũ Văn H2 – sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

11/ Anh Trương Văn H3 – sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

12/ Ông Trần Thanh T1 – sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

13/ Ông Nguyễn Văn Đ3 – sinh năm 1952; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

14/ Ông Đặng Kim D1 – sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

15/ Anh Lê Văn C – sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

16/ Anh Hoàng Gia Q – sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

17/ Anh Hoàng Tuấn A – sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

18/ Anh Chu Hữu T2 – sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

19/ Anh Nguyễn Văn H4 – sinh năm 1970; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

20/ Anh Lê Văn S1 – sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

21/ Anh Lê Đình T3 – sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai(vắng mặt).

22/ Anh Nguyễn Bá Q1 – sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

23/ Chị Trần Huyền T4 – sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

24/ Chị Vũ Thị V – sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

25/ Anh Nguyễn Công H5 – sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

26/ Anh Đặng Tấn T5 – sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

27/ Anh Trần Minh N1 – sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

28/ Anh Trương Quang Đ4 – sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

29/ Anh Huỳnh Văn Ú – sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

30/ Anh Vũ Quốc H6 – sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

31/ Sở giao thông vận tải tỉnh Đ;

Địa chỉ trụ sở: Số A P, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

32/ Sở giao thông vận tải Thành phố H;

Địa chỉ trụ sở: Số F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Phú L sinh năm 1986 ngụ khu D thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thành lập Công ty tư nhân là “Công ty TNHH D2”, được Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với mã số doanh nghiệp C2, đăng ký lần đầu ngày 08/01/2018, có trụ sở đặt tại khu D thị trấn T, huyện T,với ngành nghề kinh doanh là đào tạo lái xe ô tô. Trong đó Phạm Phú L là người giữ chức danh “Chủ tịch công ty kiêm giám đốc".

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến giữa năm 2020, Phạm Phú L nhận đào tạo dạy lái xe ô tô thi sát hạch các hạng B1, B2, C cho nhiều học viên tại huyện T, trong đó có các ông (bà): Trần Đình Đ1, Lê Văn C, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Bá Q1, Chu Hữu T2, Vũ Thị V, Lê Đình T3, Vũ Văn H2, Trần Quốc H1, Vũ Mạnh H, Đặng Kim D1, Nguyễn Quốc Đ2, Trương Văn H3, Nguyễn Văn Đ3, Lê Văn S1, Cao Văn Á, Trần Thanh T1, Nguyễn Công H7, Nguyễn Văn N, Nguyễn Tấn S, Nguyễn Tấn D, Lê Văn S1, Hoàng Gia Q, Trần Huyền T4, Trần Minh N1, Đặng Tấn T5, Trương Quang Đ4, Huỳnh Văn Ú, Vũ Quốc H6. Học phí L nhận dạy học giao động từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng tùy theo học viên đăng ký thi bằng B2 hay C. Sau đó, L tổ chức cho học viên tập chạy xe ô tô tại địa phương, dạy cách học lý thuyết và đưa học viên đến các trung tâm sát hạch học lái sa hình. Đến năm 2020, thời điểm dịch C1 – 19 bùng phát, các trung tâm sát hạch phải tạm ngưng tổ chức thi, nhiều học viên do học đã lâu yêu cầu L phải tổ chức cho thi sát hạch theo đúng như đã thỏa thuận. Lúc này, do làm ăn thua lỗ và tốn nhiều chi phí sửa chữa phương tiện dạy lái, và nhằm để thu lợi, Phạm Phú L đã lên trang mạng xã hội “Facebook” tìm và đặt người làm giấy phép lái xe giả kèm theo hồ sơ gốc, thỏa thuận giá giấy phép lái xe hạng B2 là 7.000.000 đồng, hạng C là 9.000.000 đồng. Trong thời gian trên, L đã 03 lần liên hệ và đặt làm 12 giấy phép lái xe hạng B2, C cho các anh Vũ Mạnh H, Cao Văn Á, Nguyễn Văn N, Trương Văn H3, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn Đ3, Đặng Kim D1, Lê Văn C, Hoàng Gia Q, Chu Hữu T2, Trần Minh N1 và Đặng Tấn T5.

Sau khi được Phạm Phú L giao giấy phép lái xe, các học viên sử dụng giấy phép lái xe trên thì biết bị làm giả nên đã làm đơn tố cáo Phạm Phú L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T. Tại cơ quan điều tra, Phạm Phú L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ:

  • 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Chu Hữu T2, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/6/2020.
  • 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Minh N1, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/6/2020.
  • 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đặng Tấn T5, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/12/2019.
  • 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Lê Văn C, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/6/2020.
  • 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Cao Văn Á, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/12/2019.
  • 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn N, số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/6/2020.
  • 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Vũ Mạnh H, số [...] do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 25/6/2020.

Tại Kết luận giám định số 4631/C09B ngày 03/12/2021, số 1628/KL-KTHS ngày 01/4/2022, số 4350/KL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C3 kết luận: 07 giấy phép lái xe các hạng B2, C mang tên Chu Hữu T2, Trần Minh N1, Đặng Tấn T5, Lê Văn C, Cao Văn Á, Nguyễn Văn N, Vũ Mạnh H do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ và Sở giao thông vận tải thành phố H cấp đều là giả. (Bút lục 25, 26, 203).

Tại Cáo trạng số 121/CT-VKSTP-ĐN ngày 20 tháng 9 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Phạm phú L1 về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phần tranh luận: Đại diện viện kiểm sát rút truy tố về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a, khoản 3, Điều 341 của Bộ luật Hình sự và thay đổi tội danh đề nghị truy tố bị cáo về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, khoản 2, Điều 341 của Bộ luật hình sự, đồng thời rút truy tố đối tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự điểm g, khoản 1 Điều 52. Có sự rút truy tố và thay đổi tội danh nêu trên bởi lẽ: bị cáo có hành vi cung cấp các thông tin về nhân thân (Giấy chứng minh nhân dân), cung cấp hình thẻ 3x4 của những người học viên lái xe và chuyển tiền qua tài khoản cho các cho các đối tượng làm giả và thực tế bị cáo sử dụng những bằng lái xe này đưa cho những học viên để sử dụng tham gia giao thông. Hành vi này của bị cáo là hành vi sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức không phải là đồng phạm giúp sức cho các đối tượng làm giả, mặt khác bị cáo cũng không có mối quan hệ nào với các đối tượng làm giả mà chỉ giao dịch mua bán trên mạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 341; Điều 38; điểm i, khoản 1, khoản 2, Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017: đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Phú L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng giam.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo đã thu lợi bất chính.

Đối với 07 Giấy phép lái xe mang tên Trương Văn H3, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn Đ3, Đặng Kim D1, sau khi nhận và sử dụng các giấy phép lái xe trên, do nghi là giả nên các anh H3, T1, Đ3, D1 đã vứt bỏ hoặc thất lạc, các anh không nhớ được giấy phép lái xe cấp thời gian nào, số của giấy phép lái xe.

Đối với Giấy phép lái xe mang tên Hoàng Gia Q, anh Hoàng Gia Q khai do giấy phép lái xe gián ảnh của anh Nguyễn Bá Q1 nên anh Q1 đã trả lại cho Phạm Phú L và Phạm Phú L đã tự hủy. Các giấy phép lái xe trên không thu hồi được nên không thể tiến hành trưng cầu giám định cũng như xác định cơ quan có thẩm quyền cấp các giấy phép lái xe bị Phạm Phú L làm giả nên không đủ căn cứ để xử lý.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng năng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo, thống nhất về xử lý vật chứng và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 121/CT-VKSTP-ĐN ngày 20 tháng 9 năm 2022 cùng việc rút truy tố về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a, khoản 3, Điều 341 của Bộ luật Hình sự và thay đổi tội danh đề nghị truy tố bị cáo về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, khoản 2, Điều 341 của Bộ luật hình sự, đồng thời rút truy tố đối tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, mặt khác còn thể hiện sự coi thường pháp luật, làm giảm hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Trong vụ án này bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được hậu quả của hành vi sai trái và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội, nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính nuôi vợ cùng 01 con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và hiện vợ bị cáo đang mang thai được hơn 12 tuần, bên cạnh đó bị cáo đã hoàn trả hết số tiền đã thu của các học viên và nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, những tình tiết này được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Từ những đánh giá phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo có điều kiện sớm trở về đoàn tụ lo cho các con nhỏ và sớm hòa nhập cộng đồng.

[6] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với 07 Giấy phép lái xe mang tên Trương Văn H3, Trần Thanh T1, Nguyễn Văn Đ3, Đặng Kim D1, sau khi nhận và sử dụng các giấy phép lái xe trên, do nghi là giả nên các anh H3, T1, Đ3, D1 đã vứt bỏ hoặc thất lạc, các anh không nhớ được giấy phép lái xe cấp thời gian nào, số của giấy phép lái xe.

Đối với Giấy phép lái xe mang tên Hoàng Gia Q, anh Hoàng Gia Q khai do giấy phép lái xe gián ảnh của anh Nguyễn Bá Q1 nên anh Q1 đã trả lại cho Phạm Phú L và Phạm Phú L đã tự hủy. Các giấy phép lái xe trên không thu hồi được nên không thể tiến hành trưng cầu giám định cũng như xác định cơ quan có thẩm quyền cấp các giấy phép lái xe bị Phạm Phú L làm giả nên không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Các cơ quan chủ quản có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe bị Phạm Phú L làm giả: Không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với hành vi của Phạm Phú L thu tiền học phí của học viên nhưng không tổ chức cho học viên thi sát hạch theo quy định: Tòa án đã trả hồ sơ 02 lần để yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ về có cấu thành tội danh khác ngoài tội danh đã truy tố hay không. Quá trình điều tra, điều tra bổ sung xác định Phạm Phú L khai nhận khi thu tiền từ học viên, L đã nhiều lần bỏ ra chi phí tổ chức dạy học lý thuyết, dạy thực hành lái xe ô tô cho các học viên cũng như đưa học viên đến các trung tâm sát hạch chạy sa hình, tuy nhiên đến khoảng giữa năm 2020 do dịch bệnh C1 – 19 nên các Trung tâm thi sát hạch lái xe phải tạm ngưng, bản thân L làm ăn thua lỗ, các học viên gây áp lực yêu cầu L đưa học viên đi thi sát hạch theo thỏa thuận ban đầu nên L mới lên mạng xã hội Facebook đặt mua giấy phép lái xe giả cho học viên; Các học viên khác L chưa có điều kiện để liên hệ tổ chức cho họ đi thi sát hạch thì bị tố giác, bản thân L không có ý thức chiếm đoạt tiền học phí của học viên. Mặt khác, sau khi xảy ra vụ việc trên, L đã hoàn trả lại toàn bộ học phí đã thu cho các học viên đăng ký học lái xe ô tô. Do đó, hành vi của Phạm Phú L chưa đủ yếu tố cấu thành các tội về “chiếm đoạt tài sản” nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Tòa án căn cứ vào phạm vi xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đối với điện thoại di động Phạm Phú L dùng làm phương tiện liên lạc đặt làm các giấy phép lái xe giả, L khai đã bị hư hỏng, L đã vứt bỏ nên không thu hồi được.

Đối với đối tượng nhận làm giấy phép lái xe giả cho Phạm Phú L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Phạm Phú L đã hoàn trả lại toàn bộ học phí đã thu cho các học viên đăng ký học lái xe ô tô và các học viên đã làm đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và tại phiên tòa các đương sự vắng mặt cũng không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc rút quyết định truy tố về tội danh và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và thay đổi tội danh đối với bị cáo tại phiên tòa, hình phạt tù, xử lý vật chứng và các vấn đề khác. Tuy nhiên về mức hình phạt thì Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[10] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đa số đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố vẫn còn một số thiếu sót, nhưng những thiếu sót nêu trên đã được Tòa án trả hồ sơ không làm ảnh hưởng đến bản chất và nội dung của vụ án, căn cứ theo quy định và phạm vi xét xử thì Tòa án không được trả hồ sơ tiếp mà phải đưa vụ án ra xét xử, do đó Tòa án căn cứ vào những tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ đưa vụ án ra xét xử, đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Phú L phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 341; Điều 38; điểm i, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Phạm Phú L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 02/11/2022 đến ngày 22/6/2022).

Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng.

(Số tiền nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên lai thu tiền số 0000075 ngày 08/10/2022).

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 136/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2023/QĐST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger