|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 136/2021/HS-ST Ngày: 27-10-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Chung
- Ông Nguyễn Đắc Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Thế L - Sinh ngày 19/10/1984 tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Lê Thế B - Sinh năm 1962 và bà: Hoàng Thị D - Sinh năm 1963; Có vợ: Trần Thị H – Sinh năm: 1983; Có 4 con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 06/9/2012, bị TAND huyện T (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ 02/7/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Lê Ngọc G - Sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/5/2021, Lê Thế L đến Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hợp Lực để điều trị vết thương trong quá trình lao động. Sau khi nhập viện, L nằm điều trị tại giường bệnh số 01, phòng 610, khoa ngoại chấn thương của Bệnh viện. Cùng thời điểm này có anh Lê Ngọc G ở thôn Phú T, xã P, thị xã Nghi Sơn đang chăm vợ ốm tại đây và nằm tại giường bệnh số 2, cạnh giường bệnh của L. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 29/5/2021, L thức dậy, quan sát thấy mọi người trong phòng đều đã ngủ, phát hiện ở đầu giường bệnh số 2, nơi anh G ngủ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh. L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên của anh G nên đã lén lút đi lại phía giường của anh G lấy chiếc điện thoại, bỏ vào túi quần. Sau khi trộm cắp được điện thoại, L mở cửa phòng đi ra hành lang, tắt nguồn điện thoại, giấu vào phía sau bồn cầu nhà vệ sinh nam ở phía Đông Bắc, tầng 6, gần thang máy rồi quay vào phòng ngủ tiếp. Đến khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày, L quay lại nhà về sinh lấy điện thoại trộm cắp được thì không thấy đâu nữa.
Sau khi anh Lê Ngọc G trình báo vụ việc, cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định được Lê Thế L là đối tượng nghi vấn. Qua đấu tranh, L khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp nêu trên.
Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 nêu trên tại thời điểm Lê Thế L trộm cắp có giá trị là 3.800.000 đồng.
Quá trình điều tra bị can Lê Thế L thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xác minh về nhân thân của bị can xác định: Năm 2012, Lê Thế L bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản. Tính đến thời điểm phạm tội trên, bị can đã đương nhiên được xóa án tích.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT đã ra thông báo truy tìm vật chứng vụ án là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 nhưng không có kết quả.
Về dân sự: Lê Thế L đã mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 mới trả lại cho người bị hại anh Lê Ngọc G để khắc phục hậu quả, anh G đã nhận chiếc điện thoại trên và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Bản cáo trạng số 139/CT-VKSNS-HS ngày 27/9/2021 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thế L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo là từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị cáo Lê Thế L đã mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 mới trả lại cho người bị hại anh Lê Ngọc G để khắc phục hậu quả, anh G đã nhận chiếc điện thoại trên và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét;
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tài liệu chứng chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Lê Thế L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.
[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được “Trộm cắp tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, do lười biếng, muốn hưởng thụ mà lại không chịu lao động nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu một hình phạt là cần thiết và cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đó là: Năm 2012, bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa án tích. Nhưng để có tiền phục vụ cho nhu cầu cá nhân của mình nên bị cáo đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật và cố tình phạm tội. Do đó nghĩ cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo và giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; B bị cáo đã tự nguyện mua 01 điện thoại mới trả lại cho anh G để khắc phục hậu quả do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị cáo Lê Thế L đã mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 mới trả lại cho người bị hại anh Lê Ngọc G để khắc phục hậu quả, anh G đã nhận chiếc điện thoại trên và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét;
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thế L.
- Tuyên bố: Lê Thế L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Lê Thế L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23; mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lê Thế L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hạnh |
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Minh Chung Nguyễn Đắc Hưng | Lê Thị Hạnh |
Bản án số 136/2021/HS-ST ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 136/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 28/5/2021, Lê Thế L đến Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hợp Lực để điều trị vết thương trong quá trình lao động. Sau khi nhập viện, L nằm điều trị tại giường bệnh số 01, phòng 610, khoa ngoại chấn thương của Bệnh viện. Cùng thời điểm này có anh Lê Ngọc G ở thôn Phú T, xã P, thị xã Nghi Sơn đang chăm vợ ốm tại đây và nằm tại giường bệnh số 2, cạnh giường bệnh của L. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 29/5/2021, L thức dậy, quan sát thấy mọi người trong phòng đều đã ngủ, phát hiện ở đầu giường bệnh số 2, nơi anh G ngủ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh. L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên của anh G nên đã lén lút đi lại phía giường của anh G lấy chiếc điện thoại, bỏ vào túi quần. Sau khi trộm cắp được điện thoại, L mở cửa phòng đi ra hành lang, tắt nguồn điện thoại, giấu vào phía sau bồn cầu nhà vệ sinh nam ở phía Đông Bắc, tầng 6, gần thang máy rồi quay vào phòng ngủ tiếp. Đến khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày, L quay lại nhà về sinh lấy điện thoại trộm cắp được thì không thấy đâu nữa
