|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1353/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-11-2024 V/v Tranh chấp Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1163/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 706/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tú T, sinh năm 1989. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc Minh T1, sinh năm 1986. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số H L, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số G T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Tú T trình bày:
Bà và ông Huỳnh Ngọc Minh T1 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2008 ngày 28/3/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn không ai quan tâm chăm sóc, lẫn nhau, từ năm 2022 cho đến nay. Hiện tại đã ly thân nên muốn được ly hôn. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho tôi được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Minh T1.
- Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung tên: Huỳnh Ngọc Quốc B, sinh ngày 12/6/2009; tên Huỳnh Ngọc Quốc T2, sinh ngày 25/10/2013; tên Huỳnh Ngọc Bảo T3, sinh ngày 01/6/2018. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung và không yêu cầu ông Huỳnh Ngọc Minh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
* Bị đơn ông Huỳnh Ngọc Minh T1 trình bày tại bản tự khai ngày 04/11/2024 và có đơn xin vắng mặt như sau:
- Về hôn nhân: qua yêu cầu xin ly hôn của bà T, Tôi đồng ý ly hôn vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn.
- Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung tên: Huỳnh Ngọc Quốc B, sinh ngày 12/6/2009; tên Huỳnh Ngọc Quốc T2, sinh ngày 25/10/2013; tên Huỳnh Ngọc Bảo T3, sinh ngày 01/6/2018. Sau khi ly hôn tôi đồng ý giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung, Tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ dân sự chung: ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Lê Thị Tú T và ông Huỳnh Ngọc Minh T1 là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là ông Huỳnh Ngọc Minh T1 hiện cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Huỳnh Ngọc Minh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Tú T và ông Huỳnh Ngọc Minh T1 có đăng ký kết hôn được UBND xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2008 ngày 28/3/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn không ai quan tâm chăm sóc, lẫn nhau, từ năm 2022 cho đến nay. Hiện tại đã ly thân nên muốn được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 văn bản trình bày ý kiến là đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu xin ly hôn với bà T là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T1.
[4] Về con chung:
Bà T và ông T1 có 03 (ba) con chung tên Huỳnh Ngọc Quốc B, sinh ngày 12/6/2009; tên Huỳnh Ngọc Quốc T2, sinh ngày 25/10/2013; tên Huỳnh Ngọc Bảo T3, 01/6/2018. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung và không yêu cầu ông Huỳnh Ngọc Minh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu B, cháu T2 và cháu T3 đang chung sống với mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Ông T1 đồng ý giao 03 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu B, cháu T2 và cháu T3 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung:
Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T tự nguyện chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Tú T là được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Minh T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 58, quyển số 01/2008 ngày 28/3/2008 của UBND xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 03 (ba) con chung tên Huỳnh Ngọc Quốc B, sinh ngày 12/6/2009; Huỳnh Ngọc Quốc T2, sinh ngày 25/10/2013; Huỳnh Ngọc Bảo T3, 01/6/2018.
Giao con chung tên Huỳnh Ngọc Quốc B, sinh ngày 12/6/2009; Huỳnh Ngọc Quốc T2, sinh ngày 25/10/2013; Huỳnh Ngọc Bảo T3, 01/6/2018 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung và không yêu cầu ông Huỳnh Ngọc Minh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị Tú T phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: AA/2024/0016357 ngày 17/10/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 1353/2024/HNGĐ-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1353/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Tú T ly hôn Huỳnh Ngọc Minh T
