|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1351/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-11-2025 V/v “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Nga
- Ông Võ Văn Tốt
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 543/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3332/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3875/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1974 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: B, đường H, Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
Địa chỉ: B, đường H, Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2025, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H trình bày: Ông và bà Ngô Thị L tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2001, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 08 tháng 11 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (cũ). Thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc. Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, hai bên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và xô xát lẫn nhau. Hai bên bất đồng quan điểm với nhau, không ai nói chuyện với ai, không ăn ngủ chung, mạnh ai nấy sống. Bà L thường xuyên chửi chồng và gia đình bên chồng và còn dạy các con chửi, đánh ông. Nhận thấy mâu thuẫn giữa ông và bà L đã kéo dài quá lâu và quá sức chịu đựng của bản thân, nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.
Về con chung: Ông H xác định ông và bà L có 02 (hai) con chung là: 1/ Nguyễn Hoàng A (nam), sinh ngày 14 tháng 8 năm 2003 (đã thành niên), 2/ Nguyễn Trung H1 (nam), sinh ngày 13 tháng 8 năm 2005 (đã thành niên). Các con chung đã thành niên, nên ông H không có yêu cầu gì về con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông H xác định không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn bà Ngô Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa, nên không có lời khai của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 tham gia phiên tòa phát biều ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn bà Ngô Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H, bà L.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Nguyễn Hữu H và bà Ngô Thị L chung sống với nhau từ năm 2001, đã đăng ký kết hôn vào năm 2001, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Ngô Thị L hiện đang cư trú tại B, đường H, Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu H và bà Ngô Thị L tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2001, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 08 tháng 11 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (cũ). Thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc. Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, hai bên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và xô xát lẫn nhau. Hai bên bất đồng quan đểm với nhau, không ai nói chuyện với ai, không ăn ngủ chung, mạnh ai nấy sống. Bà L thường xuyên chửi chồng và gia đình bên chồng và còn dạy các con chửi, đánh ông H. Nhận thấy mâu thuẫn giữa ông và bà L đã kéo dài quá lâu và quá sức chịu đựng của bản thân, nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.
Căn cứ Công văn số 1637/UBND-VP ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh có cung cấp nội dung: “...Mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu H địa phương không nắm rõ và cũng chưa nhận được các thông tin phản ánh, kiến nghị, yêu cầu có liên quan về mâu thuẫn hôn nhân của các ông, bà nêu trên”. Theo trả lời Phiếu xác minh ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7- thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường T ghi nhận nội dung: “Nhân khầu Ngô Thị L, sinh năm 1977 đăng ký hộ khẩu thường trú tại D, phường T Thành phố Hồ Chí Minh có đăng ký khai báo nơi ở hiện tại và thực tế cư trú tại B, đường H, Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà L, nhưng bà L không đến Tòa để có thể trình bày ý kiến, hoặc có thể hòa giải với ông H. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ bà L không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Hai bên không có hành động gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu H, tuyên cho ông H được ly hôn với bà Ngô Thị L.
Về con chung: Ông H xác định ông và bà L có 02 (hai) con chung là: 1/ Nguyên Hoàng A (nam), sinh ngày 14 tháng 8 năm 2003 (đã thành niên), 2/ Nguyễn Trung H1 (nam), sinh ngày 13 tháng 8 năm 2005 (đã thành niên). Các con chung đã thành niên, nên không có gì phải giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông Nguyễn Hữu H không yêu cầu Tòa giải quyết, bà Ngô Thị L không có đơn tranh chấp tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.
[4]. Ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Bà Ngô Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu H, tuyên cho ông Nguyễn Hữu H được ly hôn với bà Ngô Thị L.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 08 tháng 11 năm 2001 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (cũ) cấp cho ông Nguyễn Hữu H và bà Ngô Thị L không còn hiệu lực.
- Về con chung: Ông H xác định ông và bà L có 02 (hai) con chung là: 1/ Nguyễn Hoàng A (nam), sinh ngày 14 tháng 8 năm 2003 (đã thành niên), 2/ Nguyễn Trung H1 (nam), sinh ngày 13 tháng 8 năm 2005 (đã thành niên). Các con chung đã thành niên, nên không có gì phải giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông Nguyễn Hữu H không yêu cầu tòa giải quyết, bà Ngô Thị L không có đơn tranh chấp tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Hữu H phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0071826 ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 (cũ), nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngô Thị L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Sơn |
4
Bản án số 1351/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1351/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
