Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2023/DS-ST

Ngày 30-10-2023

V/v: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở

trái pháp luật đối với việc thực hiện

quyền sử dụng đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liên;

Ông Trần Quý Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 110/2022/TLST-DS, ngày 07 tháng 11 năm 2022; về việc: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXX-DS, ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1953; nơi cư trú: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Lê Thị T1, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
    • + Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
    • + Ủy ban nhân dân xã Â;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Công K- Chủ tịch UBND.
    • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đào Ngọc Q - Phó Chủ tịch UBND.
    • Địa chỉ trụ sở: V, Ân Hảo T3, H, Bình Định.
    • + Ủy ban nhân dân huyện H;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu K1 - Chủ tịch.
    • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Huỳnh Văn V - P.Chánh Văn phòng HĐND và UBND huyện H.
    • Địa chỉ trụ sở: 04 L, TT. T, huyện H, tỉnh Bình Định.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa; đại diện UBND huyện H, đại diện UBND xã Â có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn ông Trần Văn C trình bày:

Ông C đã có đất rẫy rồi, đất khai hoang trồng mì, sau đó ông C mua thêm đất rẫy của ông T4 cũng đất rẫy trồng mì. Ông C không nhớ là năm nào, nhưng đã lâu, đã trồng và khai thác 03 lứa keo rồi. Thời điểm ông C mua đất rẫy của ông T4 thì ông T4 chưa có giấy tờ về đất, ông T4 có viết giấy tay cho ông C, giá là 02 chỉ vàng 24k, nhưng giấy đã lạc mất. Về ranh giới giữa đất rẫy của ông C, đất rẫy của ông T4 và đất rẫy của bà T là rõ ràng, các bên không tranh chấp về ranh giới. Khi có đoàn đo đạc về đo, ông C dẫn chỉ vị trí, ranh giới đất rẫy ông C, đất rẫy ông C mua của ông T4 cho họ đo và lập hồ sơ đăng ký cấp, thời điểm đó bà T không tranh chấp, không có ý kiến gì. Năm 2009, ông Trần Văn C, bà Lê Thị T1 được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, Tiểu khu F), diện tích 1.302m² đất rừng sản xuất tại thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Năm 2022, ông C khai thác cây keo xong thì trồng lại cây Keo con, bà T đến nhổ phá bỏ, không cho ông trồng và nói là ông C lấn đất rẫy bà T, bà T tranh chấp cả một phần diện tích đất rẫy của ông C, một phần đất rẫy ông C mua của ông T4. Khi đoàn công tác của Toà án đến đo đạc thì cây Keo ông C trồng đã được 01 năm tuổi. Cây Trâm thì có trước và nằm trên đất rẫy của ông C, còn cây Ké là thuộc phần đất rẫy ông T4 bán cho ông C. Hiện nay, cả cây T5, cây Ké đều nằm trên đất rẫy của ông C, khi ông cam khai thác cây Keo thì ông C chừa lại. Không phải là ranh giới như bà T nói, cũng không phải như UBND xã Â hoà giải nói là ông C lấn đất của bà T, hiện bà T chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Nay tại Toà án, ông C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T chấm dứt việc nhổ phá cây Keo lai của vợ chồng ông C trồng tại đất rừng sản xuất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) giấy chứng nhận tên Trần Văn C, Lê Thị T1 thuộc: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Năm 1991 bà T phát rẫy làm đất trồng chuối, sau đó trồng mì, đến lúc trồng cây T6 (dứa) nhiều năm, sau đó bà T đi S nuôi heo. Năm 2006 bà T về trồng cây Keo cho đến năm 2011 khai thác, thời gian này giữa bà T và ông C không tranh chấp về ranh giới. Trong đó có phần diện tích đất rẫy của ông T4 bán lại cho ông C vẫn có ranh giới, không tranh chấp gì. Bà T trồng keo khai thác được 03 đợt là 15 năm, nay đợt thứ 4 thì bà T phát hiện ông C cắt cây keo của bà T, trồng cây keo mới của ông C nên bà T mới nhổ và tranh chấp với ông C; bà T không chấp nhận yêu cầu của ông C, bà T đề nghị Toà án bác bỏ khởi kiện của ông C. Bà T cho rằng, lúc ông C mời đoàn đo đạc đất thì bà T ở S nên không biết, bà T không biết ông C được cấp sổ năm nào. Bà T xác định gốc cây T5, gốc cây Săn Mây, cây Ké làm ranh giới, Cây K2 là đất rẫy của bà T, cây T5 và cây S Mây ông C chặt rồi. Ông Trần Văn C được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ rừng sản xuất thì đó là việc của ông C, bà T không đồng ý cấp sổ cho ông C trên phần đất rẫy của bà T, còn phần đất rẫy của bà T thì bà T cứ làm, hiện tại bà T không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thị T1 trình bày: Bà Tôi là vợ của ông Trần Văn C, bà T1 là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng sản xuất cùng với ông Trần Văn C. Bà T1 đồng ý với lời khai của ông C (chồng bà) tại Toà án, bà T1 không bổ sung thêm gì. Tại Toà án, bà T1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T chấm dứt việc nhổ phá cây Keo lai của vợ chồng bà T1 trồng tại đất rừng sản xuất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) thuộc: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
  • + Ông Bùi Văn T2 trình bày: Theo bà T (vợ ông T2) xác nhận ông T7 bị bệnh, không đi lại được, ông T7 thống nhất như trình bày và ý kiến của bà T, ông T2 có đơn xin vắng mặt.
  • + Đại diện UBND huyện H trình bày: Qua nghiên cứu tài liệu của UBND xã Â cung cấp cho Toà án nhân dân huyện Hoài Ân về vụ tranh chấp giữa ông C và bà T thì đại diện cho UBND huyện H có ý kiến như sau: Về nguồn gốc đất rẫy của ông Trần Văn C đã có, ông C nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T8 một phần diện tích đất rẫy nữa. Các bên xác định ranh giới là rõ ràng không tranh chấp, ông C chỉ cho đoàn đo đạc, vẽ bản đồ làm đơn đăng ký cấp đất rừng sản xuất. Thời điểm này ông C, ông T8, bà T đều không tranh chấp về ranh giới; UBND huyện H đã cấp chứng nhận QSDĐ cho ông Trần Văn C đúng quy định. Ông C sử dụng đất canh tác trồng cây keo lai ổn định và khai thác đã 03 đợt trên 10 năm không ai tranh chấp là hợp pháp. Quan điểm của UBND huyện H: Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Trần Văn C là đúng pháp luật, diện tích ghi trong giấy chứng nhận và sơ đồ trích lục địa chính là đúng. Đề nghị Toà án căn cứ giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Trần Văn C để giải quyết theo quy định.
  • + Đại diện UBND xã Â trình bày: Khi ông T8 chuyển nhượng phần đất rẫy cho ông C thì xác định: Ranh giới như bà T sử dụng hiện tại. Lúc ông C chỉ đoàn đo đạc đã đo lấn qua đất rẫy bà T nên khi cấp thì giấy chứng nhận QSDĐ cho ông C phần diện tích sai so với thực tế. Quan điểm của UBND xã Â: Trao đổi với UBND huyện H để thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ của Trần Văn C để đo đạc lại diện tích ông T8 chuyển cho ông C, điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ của ông C theo nội dung: Chấp nhận ranh giới thực tế của ông C và bà T đang sử dụng, trồng cây. Nếu ông C không đồng ý thì xử bác bỏ yêu cầu của ông C.

- Kết quả đo đạc, định giá tài sản.

Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F). thuộc thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

  • + Diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 1.302m².
  • + Diện tích theo đo đạc thực tế: 958,79m².
  • + Diện tích tranh chấp: 262,05m².
  • + Trên diện tích tranh chấp: Các bên xác định hiện tại không có cây keo.
  • + Loại cây keo lớn (bà T trồng): 131 cây x 16.000 đồng/cây = 2.096.000 đồng. Loại cây keo nhỏ (ông Cam T9): 131 cây x 15.000 đồng/cây = 1.965.000 đồng.
  • + Đất thuộc vị trí 3, nhóm 2 giá 7.800 đồng/m².
  • + Diện tích tranh chấp 262,05m² x 7.800 đồng/m² = 2.043.600 đồng.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên toà phát biểu:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán giải quyết vụ án, Thư ký tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về giải quyết vụ án: Có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có hộ khẩu tại xã Â, huyện H, tình B. Tài sản tranh chấp gồm: Quyền sử dụng đất tại thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Quan hệ pháp luật được xác định: “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Đã được thông báo, triệu tập hợp lệ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.
  3. Xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn C.

    Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và qua công tác xác minh, xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế diện tích đất của thửa 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) tại thôn C, xã Â Tây xác định: Nguồn gốc của thửa đất là do ông Trần C khai hoang trồng cây từ trước, sau đó ông C mua thêm đất rẫy của ông Nguyễn Văn T10, ông C trồng cây Keo lai và khai thác 03 lứa Keo. Về ranh giới giữa đất rẫy của ông C, đất rẫy của ông T10 và đất rẫy của bà T là rõ ràng, các bên không tranh chấp về ranh giới. Khi có đoàn đo đạc về đo, ông C dẫn chỉ vị trí, ranh giới đất rẫy ông C, đất rẫy ông C mua của ông T10 cho họ đo và lập hồ sơ đăng ký cấp, thời điểm đó bà T không tranh chấp. Năm 2009, ông Trần Văn C, bà Lê Thị T1 được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (K, Tiểu khu F), diện tích 1.302m² đất rừng sản xuất tại thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Năm 2022, ông C khai thác cây keo xong thì trồng lại cây Keo con, bà T đến nhổ phá bỏ, không cho ông C trồng và nói là ông C lấn đất rẫy bà T, bà T tranh chấp cả một phần diện tích đất rẫy của ông C, một phần đất rẫy ông C mua của ông T10. Ông C xác định: Cây Trâm thì có trước và nằm trên đất rẫy của ông C, còn cây Ké là thuộc phần đất rẫy ông T10 bán cho ông C. Hiện nay, cả cây T5, cây Ké đều nằm trên đất rẫy của ông C, khi ông C khai thác cây Keo thì ông C chừa lại. Không phải là ranh giới như bà T nói, cũng không phải như UBND xã Â hoà giải nói là ông C lấn đất của bà T, hiện bà T chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Tại phiên toà, ông C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T chấm dứt việc nhổ phá cây Keo lai của vợ chồng ông C trồng tại đất rừng sản xuất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) giấy chứng nhận tên Trần Văn C, Lê Thị T1 thuộc: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. Đối với ý kiến của bị đơn Nguyễn Thị Thanh T.
    • - Về nguồn gốc đất: Bà T xác định Năm 1991 bà T phát rẫy làm đất trồng chuối, sau đó trồng mì, đến lúc trồng cây Thơn (dứa) nhiều năm, sau đó bà T đi S nuôi heo. Năm 2006 bà T về trồng cây Keo lai cho đến năm 2011 khai thác, thời gian này giữa bà T và ông C không tranh chấp về ranh giới, phần diện tích đất rẫy của ông T10 bán lại cho ông C vẫn có ranh giới, bà T cũng không tranh chấp.
    • - Về quá trình bà T canh tác trồng cây Keo Lai: Bà T trồng keo khai thác được 03 đợt là 15 năm, nay đợt thứ 4 thì bà T phát hiện ông C cắt cây keo của bà T, trồng cây Keo lai mới của ông C nên bà T mới nhổ và tranh chấp với ông C. Hiện tại bà T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất bà T trồng cây Keo lai chưa được xác định ranh giới với các chủ đất liền kề nên việc bà T cho rằng ông C lấn đất của bà T là không có căn cứ. Tại Toà án, bà T cho rằng UBND huyện H cấp đất rừng sản xuất cho ông Trần Văn C là không đúng, nhưng trong quá trình UBND xã Â hoà giải, bà T không hề khiếu nại về hành chính đối với giấy chứng nhận QSDĐ của UBND huyện H cấp cho ông Trần Văn C. Đến khi ông C khởi kiện đến tại Toà án, bà T không có yêu cầu phản tố, không khởi kiện về hành chính đối với giấy chứng nhận QSDĐ của UBND huyện H cấp cho ông C. Nay bà T yêu cầu Toà án bác bỏ khởi kiện của ông C là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  5. Đối với ý kiến của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
    • [5.1]. Đối với bà Lê Thị T1: Tại Toà án, bà T1 đồng ý với lời khai của ông C (chồng bà) tại Toà án, bà T1 không bổ sung thêm gì. Tại Toà án, bà T1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T chấm dứt việc nhổ phá cây Keo lai của vợ chồng bà T1 trồng tại đất rừng sản xuất thửa số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) thuộc: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
    • [5.2]. Ông Bùi Văn T2: Bà T (vợ ông T2) xác nhận ông T7 bị bệnh, không đi lại được, ông T7 thống nhất như trình bày và ý kiến của bà T, ông T2 có đơn xin vắng mặt.
    • [5.3]. Đại diện UBND xã Â.

      Có ý kiến rằng: Quá trình ông C dẫn chỉ đo đạc không đúng diện tích thực tế các bên sử dụng nên dẫn đến cấp sai. Tuy nhiên đại diện của UBND xã Â Tây không giải thích rõ việc lập hồ sơ đề nghị của cấp xã biết sai, nhưng không đề nghị điều chỉnh ban đầu, không có văn bản ý kiến đối với UBND huyện H về việc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Trần Văn C để đo đạc lại, điều chỉnh. Từ khi hoà giải cấp cơ sở cho đến khi ông C khởi kiện đến Toà án, UBND xã Â không có một văn bản ý kiến hay kiến nghị gì đến Toà án, đến UBND huyện H. Tại Toà án, đại diện UBND huyện H không đồng ý với quan điểm của đại diện UBND xã Â nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận.

    • [5.4]. Đại diện UBND huyện H.
      • - Về nguồn gốc đất rẫy của ông Trần Văn C đã có, ông C nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất rẫy của ông Lê Văn T8. Các bên xác định ranh giới là rõ ràng không tranh chấp, ông C chỉ cho đoàn đo đạc đo vẽ bản đồ làm đơn đăng ký cấp đất rừng sản xuất. Thời điểm này ông C, ông T8, bà T đều không tranh chấp về ranh giới; UBND huyện H đã cấp chứng nhận QSDĐ cho ông Trần Văn C đúng quy định. Ông C sử dụng đất canh tác trồng cây keo lai ổn định và khai thác đã 03 đợt trên 10 năm không ai tranh chấp là hợp pháp.
      • - Quan điểm của UBND huyện H: Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Trần Văn C là đúng pháp luật, diện tích ghi trong giấy chứng nhận và sơ đồ trích lục địa chính là đúng. Đề nghị Toà án căn cứ giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Trần Văn C để giải quyết theo quy định là có cơ sở nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  6. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
    • - Về tố tụng: Thẩm phán giải quyết vụ án, Thư ký tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • - Về giải quyết vụ án: Có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
  7. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản: Ông Trần Văn C đã tạm ứng 8.659.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả lại cho ông C 8.659.000 đồng.
  8. Về án phí sơ thẩm dân sự: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bà T nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 163, 164, 165, 166, điểm d khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 235, khoản 1 Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 169, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận khởi kiện và yêu cầu của ông Trần Văn C.

    - Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T: Phải chấm dứt hành vi cản trở trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất. Tại thửa đất rừng sản xuất số 417, tờ bản đồ số 02 (khoảnh 9, tiểu khu F) thuộc: thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Giấy chứng nhận tên Trần Văn C, Lê Thị T1; kèm theo bản vẽ trích đo sơ đồ địa chính thửa đất.

  2. Về chi phí đo đạc, định giá:

    Bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả lại cho ông Trần Văn C 8.659.000 đồng.

  3. Về án phí sơ thẩm dân sự:

    - Bà Nguyễn Thị Thanh T nộp 300.000 đồng.

  4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án.

    4.1. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết tại trụ sở chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vân

HỘI DỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

Nguyễn Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 135/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger