|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 135/2024/HS-PT Ngày 30-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Nâu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Ông Nguyễn Hải Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 và 30/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 09/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 162/2024/QĐXXPT-HS ngày 26/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2024/QĐPT-HS ngày 08/7/2024.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 2002; tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở : Khu Phố T, Phường S, Thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn B1, sinh năm 1983; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; đều trú tại: Khu Phố T, phường S, thị Xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
1
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số bị cáo và người tham gia tố tụng khác nhưng do không có kháng cáo và kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn B, sinh năm 2002, trú tại khu phố T, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là người đã có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông tỉnh B cấp ngày 31/7/2023. Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 11/12/2023, B điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu TERACO, biển kiểm soát 99C-164.99 từ nhà lên thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao hàng, đi cùng B còn có ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1983 (là bố đẻ của B) ngồi ở ghế phụ của xe. Khoảng 04 giờ 40 phút cùng ngày khi B điều khiển xe ô tô đi đến Km33+750 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do B điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều thành phố B đi thị trấn C nên đã đâm vào xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade biển kiểm soát 98E1-723.60 do chị Triệu Thị T, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã T, huyện L điều khiển đi ngược chiều phía trước, xe mô tô của chị T bị cuốn vào gầm xe ô tô và bị xe ô tô kéo rê đi khoảng 5 - 7 mét thì xe ô tô tiếp tục đâm vào xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu đỏ đen biển kiểm soát 98B1-565.69 do chị Lãnh Thị S, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã P, huyện L điều khiển cũng đi hướng ngược chiều đến (hướng thị trấn C đi thành phố B). Sau đó xe ô tô lao xuống rãnh nước ở phía bên trái theo chiều đi và dừng lại. Hậu quả chị S, chị T tử vong tại chỗ, các phương tiện bị hư hỏng.
Cùng ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng phẳng, bề mặt đường trải nhựa áp phan chiều rộng lòng đường là 11m, giữa đường có vạch kẻ đứt đoạn màu trắng, bên phải trên lề đường hướng L đi Bắc Giang có biển báo giao thông W.202. Trên lề đường trái khu vực xảy ra tai nạn có biển báo giao thông (biển báo nguy hiểm), bên phải đường là lề đất rộng 0,9m phía trong lề đường là mương nước, chiều rộng mương nước là 2,4m, mực nước cao 0,2m. Từ vị trí thấp nhất của mương nước so với mặt đường là 01m. Lấy mép đường phải chiều đường L đi Bắc Giang làm chuẩn. Lấy cột điện lưới kí hiệu 1.8/TBA Đội 2 làm mốc. Tại vị trí kí hiệu số 1 là dấu vết cầy xước mặt đường, lề đường chiều hướng vết Bắc Giang - L. Dấu vết được tách thành dấu vết kí hiệu số 1a và kí hiệu số 1b. Tại vị trí kí hiệu số 1a có kích thước trên diện (16,1 x 0,7)m đầu vết cách mép đường chuẩn 1,25m cách mốc 17,6m. Cuối vết ở dưới gầm xe ô tô phía bên trái tương ứng với vị trí xe mô tô kí hiệu số (4) cách mép chuẩn 2,95m. Tại vị trí kí hiệu số (1b) có kích thước trên diện (10x0,35)m đầu vết cách mép chuẩn 0,2m cách đầu vết số 1a là 5,7m. Cuối vết nằm dưới mương nước tương ứng với vị trí xe mô tô kí hiệu số (3), cách mép chuẩn 2,4m. Tại vị trí kí
2
hiệu số (2) là xe ô tô biển số 99C-164.99 trong trạng thái đỗ chéo đầu xe hướng Lục Ngạn một phần xe ở dưới mương nước. T1 trục sau bên phải xe cách mép chuẩn 1,9m. T1 trục trước bên phải xe cách mép chuẩn 3,5m cách mốc 30m. T1 trục sau bên trái xe cách mốc 26,8m. T1 trục trước bên trái xe ô tô cách đầu vết số (1) là 16,6m. Tại vị trí kí hiệu số (3) là xe mô tô biển số 98B1-565.69 trong trạng thái đổ nghiêng trái dưới mương nước. Đầu xe hướng Bắc Giang. Trục trước xe cách mép chuẩn 2,85m, cách đầu vết số 1 là 15,7m. Trục sau xe cách mép chuẩn 2,4m, cách đầu vết là 16,5m, cách tâm trục trước bên phải xe ô tô là 1,2m. Tại vị trí kí hiệu số (4) là xe mô tô biển số 98E1-723.60 trong trạng thái nằm hoàn toàn dưới gầm xe ô tô bị biến dạng, phần đầu xe hướng lề đường phải, đuôi xe hướng lề đường trái. Trục trước xe cách mép chuẩn 3,8m, cách đầu vết số (1) là 14,8m. Trục sau xe cách mép chuẩn là 3,1m cách đầu vết số 1 là 15m, cách trục trước bên phải xe ô tô là 1,5m. Tại vị trí kí hiệu số (5) là tử thi nữ giới trong trạng thái nằm ngửa dưới gầm xe ô tô, mặt bị biến dạng hoàn toàn. Đầu tử thi hướng lề đường phải, chân tử thi hướng lề đường trái. Bên ngoài tử thi mặc áo khoác màu xanh quần bò màu xanh. Đỉnh đầu tử thi cách tâm trực sau xe ô tô là 0,6m, cách mép chuẩn 3,5m đầu ngón chân tử thi cách mép chuẩn 0,2m. Tại vị trí số (6) là tử thi nữ giới trong trạng thái nằm ngửa, bên ngoài mặc áo khoác màu xanh đen, mặc quần dài màu đen, Đầu tử thi hướng lề đường trái chân tử thi dưới lề đường phải. Tử thi nằm trên bãi đất trống cạnh mương nước. Đầu tử thi có đội mũ bảo hiểm màu hồng. Đỉnh đầu tử thi cách mép chuẩn 4,4m cách đầu vết số 1 là 22m. Cách tâm trục trước bên phải xe ô tô là 4,4m. Đầu ngón chân phải tử thi cách mép chuẩn 6,5m. Đầu ngón chân trái cách mép chuẩn 5,8m. Tại vị trí kí hiệu số (7) là hệ thống mảnh nhựa vỡ nằm rải rác từ mương nước, lề đường, gò đất kích thước trên diện (17,5x 07)m. T1 vị trí số 7 cách mép chuẩn 05m, cách tâm trục sau bên phải xe ô tô là 4,45m. Đầu hệ thống mảnh vỡ cách mép chuẩn 2,8m, cách đầu vết số 1 là 4,1m. Cuối hệ thống mảnh vỡ cách mép chuẩn là 5,2m. Ghi nhận trên lề đường bên phải có 01 gò đất bên dưới rộng và nhỏ dần về phía trên. Phía trên có trồng 01 cây mít. Đáy gò đất có kích thước (3,8x3,5), cao 0,9m. Điểm gần nhất cách mép chuẩn 3,5m điểm xa nhất cách mép chuẩn 07m. Tại vị trí cành cây mít trồng trên gò đất bị tác động gãy dập theo hướng Bắc Giang- L điểm cành cây bị gãy cách phần mặt đất sát gốc cây là 1,8m cách trục trước bên trái xe ô tô là 2,6m. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường khu vực gới hạn tốc độ là 60km/h. Quá trình khám nghiệm tạm giữ 01 xe ô tô tải biển số 99C-164.99, 01 xe mô tô biển số 98B1-565.69, 01 xe mô tô biển số 98E1-723.60, mẫu chất nghi máu thu tại vị trí trục trước xe ô tô biển số 99C-164.99.
3
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ của Nguyễn Văn B1: 01 giấy phép lái xe hạng A1, C; 01 căn cước công dân đều mang tên Nguyễn Văn B1; 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 căn cước công dân (bản sao) mang tên Nguyễn Văn B để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành đo nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn B. Kết quả: 0.000mg/l.
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm tử thi chị Triệu Thị T, xác định: Chiều dài tử thi 1m54 thể trạng phát triển bình thường. Đầu tóc để dài nhuộm màu nâu, hai lỗ tai có máu không đông, mặt khuyết toàn bộ da vùng mặt để lộ tổ chức xương và não, dập nát thành nhiều mảnh nhỏ, kích thước (20x19)cm. Vùng cổ xây xát da kích thước (17x7)cm. Vùng ngực có diện bầm tím da kích thước (29x20)cm. Mặt trước vai phải có diện tổn thương mất khuyết da để lộ tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, thoát tổ chức nội tạng lộ ra bên ngoài kích thước (17x12)cm, toàn bộ vùng bụng có diện xây xát da kích thước (34x28)cm. Mặt trước trong 1/3 cánh tay phải có vết thương rách da kích thước (11x4)cm, mặt sau cổ tay và mu bàn tay phải có vết xây xát da bầm tím kích thước (20x5)cm. Mặt trước đùi và cẳng chân phải có diện xây xát da bầm tím kích thước (78x17)cm. Mặt trước đùi và cẳng chân trái có diện xây xát da bầm tím (77x22)cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái có vết thương rách ra (3,5x2)cm. Mặt sau cổ chân trái có diện tổn thương rách da bờ mép nham nhở, kích thước (14x4)cm để lộ đầu dưới hai xương cẳng chân trái, sờ nắn thấy gãy phức tạp xương lồng ngực, xương sườn 1,2,3,4,5 hai bên và xương ức. Sờ nắn thấy gãy phức tạp xương đùi hai bên xương cẳng chân trái. Hậu môn thoát phân. Kiểm tra tổn thương vùng cơ mặt thấy mất khuyết da toàn bộ vùng mặt, không nhận rõ hình dạng, để lộ tổ chức xương, vỡ nát thành nhiều mảnh và tổ chức não dập nát biến dạng. Thu mẫu máu trên tử thi .
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm tử thi chị Lãnh Thị S, xác định: Chiều dài tử thi 1,57m thể trạng phát triển bình thường. Vùng đầu tóc đen, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn to, hai lỗ tai có nhiều máu không đông chảy ra khi thay đổi tư thế. Hai lỗ mũi và khoang miệng bám dính máu đông lẫn không đông. Mặt dưới 1/3 trên cẳng tay phải có dấu vết bầm tím da kích thước (2,5x1)cm. Mặt sau ngón cái bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (1x1)cm. Mặt trước trong đùi phải có diện xây sát da bầm tím diện kt(22x18)cm. Mặt dưới trong cổ tay phải có diện bầm tím rách da kích thước (11x5)cm, mặt mu bàn tay phải có diện bầm tím da kích thước (16x11)cm. Mặt trước cẳng chân trái có diện xây sát da bầm tím kích thước (32x16)cm. Mặt sau đùi phải có diện xây sát da bầm tím, kích thước (17x5)cm sờ nắm thấy gãy kín xương sườn 7, 8, 9, 10 bên phải và 6, 7, 8, 9, 10 bên trái. Sưng nề biến dạng cổ tay hai bên kiểm tra thấy gãy đầu dưới 2 xương cẳng tay hai bên. Sờ nắn thấy gãy đốt sống cổ c3-c4. Kiểm tra khoang mũi miệng và hai lỗ tai hai bên có nhiều máu không đông lẫn váng tủy, chọc hai khoang lồng ngực hai bên bằng bơm kim tiêm có nhiều máu không đông lẫn dịch bọt. Thu mẫu máu trên tử thi để phục vụ điều tra.
4
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của chị Triệu Thị T, Lãnh Thị S.
Tại bản kết luận giám định số 2475/KLGĐTT-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Nguyên nhân chết của Triệu Thị T do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt; chấn thương ngực kín; gãy xương đùi hai bên.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
+ Các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên.
+ Các tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy phức tạp xương lồng ngực hai bên gãy xương đùi, xương cẳng chân được hình thành do vật tày có tiết diện giới hạn (dạng chèn đè) tạo nên.”
Tại bản kết luận giám định số 2476/KLGĐTT-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Nguyên nhân chết của Lãnh Thị S do đa chấn thương: Gãy đốt sống cổ, chấn thương ngực kín, gãy xương cẳng hai bên.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
+ Các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên.
+ Các tổn thương gãy đốt sống cổ, phức tạp xương lồng ngực và xương cẳng tay hai bên được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.”
Ngày 28/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định mẫu chất màu nâu đỏ thu giữ trên trục trước ô tô khi khám nghiệm hiện trường và mẫu máu thu giữ của tử thi Triệu Thị T, Lãnh Thị S. Tại bản kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“5.1 Trên mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Trục trước ô tô” gửi giám định có máu người nhóm máu O.
5.2 Mẫu máu của Lãnh Thị S, Triệu Thị T được niêm phong gửi giám định:
- Mẫu máu của Lãnh Thị S: Nhóm máu O.
- Mẫu máu của Triệu Thị T: Nhóm máu A.”
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.
+ Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade, biển kiểm soát 98E1-723.60 có các dấu vết sau: Vỡ khuyết toàn bộ hệ thống ốp nhựa xung quanh gồm: ốp nhựa đầu xe, cụm đèn tín hiệu, cánh yếm hai bên, ốp sườn hai bên, để chân hai bên. Hệ thống khung kim loại chùn cong biến dạng theo hiều hướng khác nhau. Đầu ngoài tay phanh bên trái và cụm chi tiết cố định tay phanh bám dính
5
chất màu xanh dạng sơn (16x3)cm. Cụm chi tiết cố định mặt nạ đầu xe và bình ắc quy có dấu vết vỡ trượt xước nhựa bám dính màng màu trắng (chất bột) trên diện (3,6x2,8)cm; mặt dưới cụm chi tiết cố định mặt nạ và ống kim loại bọc ngoài hệ thống lái có dấu vết lõm, chùn cong kim loại hướng từ trước ra sau, phải sang trái trên diện (12x 5,6)cm. Mặt lăn bên phải má lốp có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất bề mặt bám dính chất màu xanh dạng sơn trên diện (4,5x3,4)cm cách chân van 29,5cm. Bên trái cụm chi tiết cố định ắc quy bám dính chất màu nâu đỏ và tổ chức cơ thể trên diện (16,5x13)cm. Hệ thống kim loại bên trái sườn xe gồm chân chống phụ vỏ máy để chân sau ốp kim loại bảo vệ lọc gió có dấu vết lõm, trượt xước kim loại bề mặt dám dính chất màu đen trên diện (70x19)cm. Hệ thống kim loại gầm phía dưới gầm xe và bên phải ống xả có dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại bám dính chất màu đen, vàng (dạng sơn nhựa đường) trên diện (50x 29)cm. T2 kim loại hệ thống lái bên phải chùn cong biến dạng hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau. Mặt ngoài thanh kim loại bảo vệ lọc gió có dấu vết rách, lõm thủng kim loại hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, kích thước (5,5x4,1)cm. Gãy bật khuyết 02 thanh kim loại giảm xóc phía sau. Gãy khuyết thanh kim loại tay xách và vành bánh sau. Mặt trước bên trái kính chắn gió mũ bảo hiểm màu vàng vỡ nhựa, giữa kẹp dải dác các mảnh thủy tinh trên diện (11 x 8)cm.
+ Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AriBlade, biển kiểm soát 98B1-565.69 có các dấu vết sau: Toàn bộ bề mặt phương tiện bám dính bùn đất. Vỡ khuyết toàn bộ ốp nhựa phía trên đầu xe gồm cụm đèn, mặt nạ, cánh yếm, chắn bùn. Hai bên hệ thống lái treo luồn 02 găng tay giữ nhiệt được sử dụng dây buộc cố định tại hai chân gương chiếu hậu, đặc điểm mặt ngoài dạng nhựa được sơn các màu xanh và ghi, phía trong là bông, xem xét găng tay giữ nhiệt ở phía bên trái hệ thống lái thấy mặt lạ trước trong có dấu vết rách, trượt xước nhựa, bề mặt bám dính chất màu xanh dạng sơn trên diện (6x2,5) cm, kiểm tra thấy vị trí này tương ứng với dầu phanh tay bên trái. Cụm chi tiết cố định mặt nạ và ắc quy phía trước chùn cong theo hướng từ trước về sau, từ phải sang trái bề mặt có dấu vết lõm trượt xước kim loại kích thước (9,5x4,3) cm điểm thấp nhất cách đất là 68cm. Đầu trên giảm sóc trước bên phải và 02 đầu ốc cố định giảm sóc có dấu vết trượt xước kim loại bám dính chất màu đen dạng sơn. Mặt lăn bên phải má lốp bánh trước có dấu vết màu trượt cao su sạch bụi đất chiều hướng từ ngoài mặt lăn vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến, điểm gần nhất cách chân phanh 27,5cm trên diện (13x4,2) cm. Đầu ngoài tay nắm bên phải có dấy vết mài trượt kim loại bề bám dính chất màu xanh dạng sơn. Để chân trước bên phải có dấu vết chùn cong kim loại, vỡ bật khuyết nhựa trên diện (35x6,5) cm điểm lõm khuyết hướng từ phải sang trái, trước ra sau. Mặt ngoài ốp sườn bên phải có dấu vết trượt xước sơn nhựa trên diện (11x45)cm. Cạnh dưới hệ thống ống xả bên phải có dấu vết lõm khuyết, trượt xước kim loại trên diện (22x6)cm. T2 kim loại gầm để chân
6
phải có dấu vết trượt xước khuyết kim loại bề mặt bám dính chất màu trắng, đen kích thước (2,8x0,9)cm. Để chân trước bên trái chùn cong biến dạng từ trái sang phải, dưới lên trên diện (39x16)cm. Ốp kim loại bên trái hộp máy có dấu vết trượt xước bám chất màu xanh dạng sơn kích thước (6,5x5,5)cm. Ốp nhựa đèn tín hiệu phía sau bên trái có dấu vết trượt xước nhựa bám dính chất màu trắng dạng bột đá kích thước(13x2,5)cm. Đầu trên giảm xóc trước bên trái có dấu vết vỡ, khuyết kim loại về mặt bám dính chất màu đen trên diện (11x4,4)cm. Mặt ngoài giảm xóc trước bên phải có dấu vết trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng, đen dạng sơn. Kiểm tra hệ thống bao tay giữ nhiệt bên phải hệ thống lái thấy mặt trước ngoài có dấu vết rách trượt xước nhựa trên diện (3,5x2) cm.
+ Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô loại xe tải, màu xanh biển số 99C-164.99: Vỡ khuyết ốp nhựa bên trái ba đờ sốc trước trên diện (85x21) cm. T2 kim loại bên trái đầu xe (sắt si bên trái) có dấu vết chùn cong trượt xước kim loại hướng từ trước ra sau trên diện (21x14,5) cm tại vị trí này găm kẹp 01 mảnh nhựa (dạng ốp bảo vệ đèn tín hiệu của xe mô tô). Vỡ gãy khuyết cụm đèn trước bên trái, tương ứng vị trí là bình ga có dấu vết trượt xước, lõm kim loại hướng từ trước về sau (11x9)cm, điểm thấp nhất cách đất 59cm. Mặt ngoài bên trái ốp kim loại đầu xe tại vị trí cách mép bên trái đầu xe 35cm, cách đất 90cm có dấu vết lõm thủng, trượt xước sơn hướng trước ra sau trên diện (16x5,5)cm. Mặt ngoài kính chắn gió trước phát hiện 03 diện vỡ và lõm thủng lần lượt gồm: Dấu vết 1: Tại vị trí cách đất 136cm, cách mép bên trái đầu xe 38cm, kích thước (65x34)cm; Dấu vết 2 kích thước (80x40)cm bề mặt bám dính các mảnh thân gỗ điểm thấp nhất cách đất 1,98m; Dấu vết 3 kích thước (9,5x4,5)cm bề mặt bám dính chất màu đỏ, hồng dạng sơn nhựa điểm thấp nhất cách mặt đất 137cm. Mặt ngoài ốp kim loại đầu xe vị trí tương ứng lôgô có dấu vết rách thủng, trượt xước kim loại bề mặt bám dính chất màu ghi, xanh dạng nhựa, cao su trên diện (24x14,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 86cm. Gãy khuyết toàn bộ lưới tản nhiệt phía trước. Cụm chi tiết phía trong lưới tản nhiệt gồm nhiều ống kim loại ở bên phải đầu xe có dấu vết chùn cong, trượt xước hướng từ trước ra sau từ phải sang trái, bề mặt bám dính chất màu đỏ dạng sơn, điểm thấp nhất cách mặt đất 66cm. Hệ thống kim loại phía dưới gầm đầu xe gồm giàn tản nhiệt dầu nhíp trục bánh trước bên trái thanh kim loại có dấu vết lõm, trượt xước kim loại từ trước ra sau trên diện (83x22)cm. Cụm chi tiết cố định hệ thống lái bên trái chùn cong từ trước ra sau, bề mặt bám dính các mảnh thân gỗ (8x11)cm. Bên trái biển số trước và khung kim loại ở vị trí tương ứng có dấu vết chùn cong bám dính tổ chức mô vải và chất nâu đỏ, găm kẹp 01 mảnh vải màu đen trắng, trên diện (45x17)cm. Gãy bật khuyết thanh dưới hệ thống kim loại bảo vệ thành thùng.
Ngày 14/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết, vị trí va chạm, tốc độ của các
7
phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại bản kết luận giám định số 2491/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, hướng ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn lốp bánh trước và dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính bột màu trắng, hướng từ trước ra sau ở mặt trước phốt, thanh kim loại gắn đỡ ắc quy của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 723.60 (ảnh 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, trượt xước sơn, nhựa ở bên trái cản trước, cụm đèn trước bên trái và dấu vết chùn cong kim loại, hướng từ trước ra sau ở thanh kim loại bên trái đầu xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 (ảnh 1, 2, 3, 11 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
Dấu vết trượt xước sơn, chùn cong kim loại, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở mặt trước tay phanh và cụm chi tiết cố định tay phanh bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-723.60 (ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm thủng, trượt xước mất sơn, kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài bên trái ốp kim loại đầu xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 (ảnh số 3 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
Dấu vết vỡ nhựa, chùn C1, hướng từ phải sang trái ở để chân trước, khung kim loại sườn bên phải và bảo vệ lọc gió của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 723.60 (khi xe mô tô trong tư thế đổ nghiêng trái, ảnh 11, 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt dưới cụm chi tiết bên trái trục cầu trước của xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 (ảnh số 17 bản ảnh khám hiện trường).
2. Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, hướng ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn và bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 565.69 (ảnh 9, 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau ở mặt trước dưới, bên phải cản trước của xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 (ảnh số 13, 14 bản ảnh khám nghiệm phương tiện). Dấu vết rách, trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở các họa tiết tại mặt trước găng tay giữ nhiệt lồng bên ngoài tay nắm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-565.69 (ảnh 2, 3 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu xanh, vàng (dạng sơn, nhựa), hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ốp kim loại đầu xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 (dưới vị trí lô gô, ảnh 7, 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
3. Dấu vết mài trượt nhựa, kim loại, bám dính chất màu nâu đỏ và mảnh vải ở biển số trước, cản trước, khung kim loại trục cầu bánh trước của xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 được hình thành do va chạm với vật tày (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên.
4. Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở mặt dưới cụm chi tiết ống xả, vỏ máy, chân chống chính và các chi tiết
8
bên trái gồm: để chân sau, vỏ máy, tay xách của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 565.69 (ảnh 12, 13, 14, 15, 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng bề mặt không nhẵn, như mặt đường tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 565.69 bị đẩy trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1B.
5. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 723.60 với xe ô tô biển kiểm soát 99C – 164.99 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1A, thuộc phần đường bên phải theo hướng L đi thành phố B. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 chuyển động theo hướng thành phố B đi L va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 723.60 ở phía trước ngược chiều.
6. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 565.69 với xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1B, thuộc phần đường bên phải theo hướng L đi thành phố B. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 99C - 164.99 chuyển động theo hướng thành phố B đi L va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 565.69 ở phía trước ngược chiều.
7. Không xác định được tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Ngày 28/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định định tài sản đối với thiệt hại của 03 phương tiện sau tai nạn. Tại bản kết luận định giá tài sản số 196,197,198/KL-HĐĐGTS cùng ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận: Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 723.60 là 30.200.000 đồng. Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 565.69 là 5.730.000 đồng. Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 99C-164.99 là 25.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 60.930.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 09/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2, 5 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 04 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 22/04/2024, bị cáo Nguyễn Văn B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu
9
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và bổ sung kháng cáo không áp dụng hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án”.
Căn cứ bị cáo đưa ra: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình đã được UBND phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xác nhận. Sau phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã chủ động thăm hỏi phía gia đình bị hại và tự nguyện bồi thường thêm số tiền 35 triệu đồng cho mỗi gia đình. Đại diện hợp pháp của các bị hại là ông Nguyễn Văn T3 và ông Tơ Văn C đã xác nhận việc bồi thường thêm của bị cáo và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và tha thiết đề nghị cho bị cáo hưởng án treo được UBND xã T, huyện L và UBND xã P, huyện L chứng thực. Bị cáo làm nghề lái xe, là công việc và nguồn sống chính của bị cáo trong việc giúp đỡ gia đình nên đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị HĐXX:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B, sửa Bản án sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Đối với hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án”, đề nghị HĐXX không chấp nhận.
Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì tranh luận, đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo và không áp dụng hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án” để bị cáo có công việc làm và nguồn sống chính của bị cáo trong việc giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
10
[1].Về tính hợp pháp của nội kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định đơn kháng cáo hợp pháp và tại phiên tòa bị cáo bổ sung kháng cáo là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự nên được HĐXX chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy, HĐXX nhận thấy:
[2.1]. Về tội danh: Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 11/12/2023, Nguyễn Văn B, sinh năm 2002, trú tại khu phố T, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu Teraco, biển kiểm soát 99C-164.99 đi trên Quốc lộ C theo hướng Bắc Giang đi thị trấn C huyện L. Khi đi đến Km33+750 địa phận thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, xe ô tô do B điều khiển đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade biển kiểm soát 98E1-723.60 do chị Triệu Thị T, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển và xe mô tô Honda loại AirBlade biển kiểm soát 98B1-565.69 do chị Lãnh Thị S, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đều đi hướng ngược chiều đến. Hậu quả chị T, chị S tử vong tại chỗ, các phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 60.930.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 09/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.2]. Xét về tình tiết tăng nặng: Ngoài các tình tiết định tội và định khung hình phạt, bị cáo Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.3]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo Nguyễn Văn B được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại và được đại diện người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện: Bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường thêm cho 2 bên gia đình bị hại, mỗi bên số tiền 35 triệu đồng. Đại diện hợp pháp của hai bị hại là ông Nguyễn Văn T3 và ông Tơ Văn C đã xác nhận việc bồi thường trên, đồng thời hai ông đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét
11
cho bị cáo hưởng án treo, được UBND xã T, huyện L và UBND xã P, huyện L chứng thực; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong Q từ tháng 02/2021 đến tháng 01 năm 2023 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[2.4]. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, cụ thể, rõ ràng. Căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách nhân đôi, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có thể cải tạo được bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, công đồng và xã hội như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự.
[3]. Đối với kháng cáo không áp dụng hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án".
HĐXX xét thấy, để tạo điều kiện cho bị cáo có công việc làm, có thu nhập trong việc giúp đỡ gia đình nên HĐXX chấp nhận kháng cáo này của bị cáo, sửa án sơ thẩm, không áp dụng hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án” theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 của Bộ luật hình sự.
[4].Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
12
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
- Không áp dụng hình phạt “Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án” theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 của Bộ luật hình sự.
- Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Văn Nâu |
13
Bản án số 135/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 135/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSPT - nguyen van B - vi pham giao thong
